TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 168/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30-6-2025
“V/v tranh chấp xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Lâu
- Ông Huỳnh Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trần Khắc Huy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên toà.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 248/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 về “tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170A/2025/QĐXX-ST ngày 16 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Dương Văn S năm: 1987
- Bị đơn: chị Nguyễn Thị Ngọc Đ sinh năm: 1990
Địa chỉ: ấp Hòa Điền, xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang
(anh S1 có mặt, chị Đ vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 15 tháng 5 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là anh Dương Văn S1 trình bày: anh và chị Nguyễn Thị Ngọc Đ tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, chị Đ thường tự ý bỏ chồng con đi khỏi nhà không rõ lý do, anh có khuyên nhiều lần nhưng chị Đ không thay đổi nên vợ chồng không còn chung sống với nhau từ đó đến nay không có hàn gắn tình cảm. Nay anh xác định không còn tình cảm với chị Đ nên yêu cầu được ly hôn. Về con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Dương Thanh H, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2007 và Dương Gia H1, sinh ngày 08 tháng 4 năm 2017 hiện 02 con chung đang sống với anh; ly hôn anh yêu cầu nuôi 02 con chung, không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng chị Đ không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh S1.
Tại phiên tòa anh S1 vẫn nguyên ý kiến yêu cầu như trên, chị Đ đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Đ là phù hợp điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: anh Dương Văn S1 khởi kiện chị Nguyễn Thị Ngọc Đ về việc xin ly hôn. Chị Đ cư trú tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: anh Dương Văn S1 và chị Nguyễn Thị Ngọc Đ tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 2009 được Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08 tháng 7 năm 2009 nên quan hệ hôn nhân giữa anh S1 và chị Đ được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống theo anh S1 xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, chị Đ thường tự ý bỏ chồng con đi khỏi nhà không rõ lý do, anh có khuyên nhiều lần nhưng chị Đ không thay đổi nên yêu cầu được ly hôn với chị Đ. Còn chị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị Đ vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh S1 chứng tỏ chị Đ không còn quan tâm đến quan hệ vợ chồng. Mặt khác, anh S1 và chị Đ cũng có thời gian dài không chung sống với nhau và anh chị cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm của mình thể hiện qua việc anh S1 kiên quyết xin ly hôn với chị Đ cho thấy quan hệ hôn nhân giữa anh S1 và chị Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho anh S1 ly hôn với chị Đ là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: anh S1 và chị Đ có 02 con chung tên Dương Thanh H, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2007 và Dương Gia H1, sinh ngày 08 tháng 4 năm 2017 hiện 02 con chung đang sống với anh S1; nay anh S1 yêu cầu nuôi 02 con chung. Chị Đ vắng mặt nên không có ý kiến về việc nuôi con chung. Xét thấy, cháu H và cháu H1 đang sống với anh S1 đã ổn định, cần tránh sự xáo trộn cuộc sống của cháu H, cháu H1 nên giao 02 cháu cho anh S1 tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình và cũng phù hợp nguyện vọng của cháu H, cháu H1 mong muốn được ở với anh S1. Về cấp dưỡng nuôi con: anh S1 không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 35, Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Dương Văn S1 và chị Nguyễn Thị Ngọc Đ.
- Về nuôi con chung:
- Giao 02 con chung tên Dương Thanh H, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2007 và Dương Gia H1, sinh ngày 08 tháng 4 năm 2017 cho anh Dương Văn S1 trực tiếp nuôi dưỡng.
- Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị Nguyễn Thị Ngọc Đ do anh Dương Văn S1 không yêu cầu.
- Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Nếu chị Đ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì anh Dương Văn S1 có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với chị Đ.
- Về án phí: anh Dương Văn S1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001702 ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; anh S1 đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: anh Dương Văn S1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Vũ |
Bản án số 168/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 168/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Dương Văn S xin ly hôn chị Nguyễn Thị Ngọc Đ.
