Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 168/2024/HS-ST

Ngày 31 - 7 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

* Tại điểm cầu trung tâm - Hội trường xét xử số I, trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thành Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Đức Nhân;
  2. Bà Trần Thị Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Vân Anh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Trần Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.

* Tại điểm cầu thành phần - Phòng xét xử trực tuyến, Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Trung H - Kiểm sát viên.

- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Đình H1.

- Cán bộ, chiến sỹ thuộc Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh tham gia tố tụng: ông Lê Xuân C và ông Tô Ngọc K.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm và Điểm cầu thành phần nêu trên, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 149/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Đào Trung Q; sinh ngày 23 tháng 4 năm 1984; nơi sinh: thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu E, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Chuyên G và bà Hoàng Thị Đ; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: 1) Ngày 23/11/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 21/9/2012, chấp hành xong toàn bộ bản án; 2) Ngày 06/5/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 19/4/2021, chấp hành xong toàn bộ bản án; bị tạm giữ từ ngày 18/3/2024; tạm giam từ ngày 27/3/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại điểm cầu thành phần.

2. Phạm Văn T; sinh ngày 30 tháng 01 năm 1974; nơi sinh: thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: tổ C, khu C, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở trước khi bị bắt: tổ F, khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C1 và bà Ngô Thị N; có vợ là Nguyễn Thị Đ1, nhưng đã ly hôn; không có con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 17/3/2024; tạm giam từ ngày 27/3/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Những người làm chứng (do Tòa án triệu tập đến điểm cầu trung tâm):

  1. Anh Vũ Đình T1, sinh năm 1991; nơi thường trú: tổ A, khu G, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
  2. Anh Đào Tiến D, sinh năm 2000; nơi cư trú: tổ D, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
  3. Ông Hoàng Văn T2 - Trưởng công an phường Y, thành phố H; vắng mặt;
  4. Ông Vũ Văn A, sinh năm 1971; nơi thường trú: tổ trưởng tổ A, khu E, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
  5. Ông Đào Chuyên G1, sinh năm 1945; nơi thường trú: tổ A, khu E, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Trung Q và Phạm Văn T là bạn bè quen biết nhau. Trong tháng 3/2024, trên địa bàn thành phố H, Q đã bán 03 lần ma túy loại Heroine cho T, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/03/2024, T điện thoại cho Q hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine, Q đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực đường đi lên vòng quay mặt trời gần gầm cầu B, thành phố H. Tại đây, T đưa cho Q 500.000 đồng, Q đưa cho T 01 gói ma túy Heroine, T đã sử dụng hết số ma túy trên.

Lần thứ hai: Khoảng 12 giờ ngày 17/3/2024, T điện thoại cho Q hỏi mua 300.000 đồng ma túy Heroine, Q đồng ý và hẹn T giao dịch tại khu vực gầm cầu B, thành phố H. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, tại địa điểm hẹn, T đưa cho Q 300.000 đồng, Q đưa cho T 01 gói ma túy Heroine. T đã sử dụng hết.

Lần thứ ba: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/3/2024, T tiếp tục điện thoại cho Q hỏi mua 02 gói ma túy Heroine với giá 300.000 đồng, mục đích để sử dụng, Q đồng ý. Do T mua hai gói nên Q lấy giá 500.000 đồng hai gói, giảm cho T 100.000 đồng và hẹn giao dịch tại khu vực đường đi lên vòng quay mặt trời gần gầm cầu B, thành phố H. Sau đó, Q đến điểm hẹn giao ma túy cho T và nhận số tiền 500.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 45 phút ngày 17/3/2024, khi T đi đến đoạn đường thuộc tổ B, khu B, phường Y, thành phố H thì bị Công an thành phố H phát hiện, bắt quả tang Phạm Văn T có hành vi tang trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Vật chứng thu giữ: tại túi áo khoác bên trái của T 01 ví giả da màu đen bên trong có 01 gói giấy vệ sinh chứa 01 gói có chất bột màu trắng và 01 gói giấy bạc bên ngoài bọc băng dính đen chứa chất bột màu trắng, 01 điện thoại di động Mobell màu đỏ đen gắn sim số 0327.754.374.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét nơi ở của Đào Trung Q, thu giữ: tại tay trái Đào T đang cầm 01 gói giấy vệ sinh ngoài bọc băng dính màu đen, bên trong có chứa 01 gói nilon màu đen, bên trong gói nilon có 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng dạng cục; thu tại túi quần phía sau bên phải Đào Trung Q đang mặc có 03 gói giấy bọc ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong mỗi gói giấy đều chứa 01 gói nilon, bên trong mỗi gói nilon đều chứa chất bột màu trắng dạng cục; thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xám đen, đã qua sử dụng, gắn biển kiểm soát 14B1-655.98 do Q điều khiển; Thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bạc đã qua sử dụng, có gắn sim thuê bao 0868.173.965; thu trong phòng ngủ của Đào Trung Q: trong hộp giấy màu vàng tại đầu giường trong phòng ngủ 01 gói giấy màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục (nghi là ma túy); trong lọ nhựa trên kệ tủ ở đầu giường ngủ trong phòng có 01 gói giấy vệ sinh được kẹp trong 01 kẹp quần áo màu xanh, bên trong gói giấy vệ sinh có 01 gói giấy màu vàng chứa chất bột màu trắng dạng cục (nghi là ma túy); thu tại đầu giường trong phòng 01 cuộn băng dính màu đen.

Tại bản Kết luận giám định số 385/KL-KTHS ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Phòng K1, Công an tỉnh Q kết luận: Vật chứng thu giữ trong quá trình bắt quả tang Phạm Văn T gửi giám định là ma túy; Loại: Heroine, khối lượng: 0,287 gam (không phẩy hai trăm tám mươi bảy gam).

Tại bản Kết luận giám định số 393/KL-KTHS ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Phòng K1, Công an tỉnh Q kết luận: Vật chứng thu giữ trong quá trình giữ khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở Đ gửi giám định là ma túy; Loại: Heroine. Khối lượng: 0,94 gam (không phẩy chín tư gam).

Quá trình điều tra, Phạm Văn T và Đào Trung Q khai nhận phù hợp với nội dung trên. Ngoài ra, Đào Trung Q khai nguồn gốc ma túy bán cho T và bị thu giữ là do Q mua của một phụ nữ không quen biết tại khu vực Đình H thuộc quận L, thành phố Hải Phòng ngày 16/3/2024, với giá 2.000.000 đồng mang về sử dụng và chia ra làm 06 gói để bán với giá 500.000đồng/01 gói và 04 gói bán với giá 300.000 đồng/01 gói. Tại phiên tòa, các bị cáo khai phù hợp với lời khai của mình tại Cơ quan điều tra và thừa nhận việc truy tố và đưa các bị cáo ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Giai đoạn điều tra, những người làm chứng các anh Vũ Đình T1 và Đào Tiến D khai mình trực tiếp chứng kiến Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng của bị cáo Phạm Văn T. Các ông Hoàng Văn T2, Vũ Văn A và Đào Chuyên G1 khai mình trực tiếp chứng kiến Công an khám xét nơi ở và thu giữ vật chứng của bị cáo Đào Trung Q.

Tại bản Cáo trạng số: 2550/CT-VKS-HL ngày 01 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Đào Trung Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Đào Trung Q từ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt;

- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Phạm Văn T từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt;

- Áp dụng: các điểm a và c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ đen thu giữ của bị cáo Phạm Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bạc thu giữ của bị cáo Đào Trung Q; trả lại cho bị cáo Đào Trung Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xám đen; truy thu của bị cáo Đào Trung Q số tiền 1.300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Các ông Hoàng Văn T2, Vũ Văn A và Đ1 Chuyên Gia đều trực tiếp chứng kiến Công an khám xét nơi ở và thu giữ ma túy của bị cáo Đào Trung Q. Số ma túy này bị cáo tàng trữ để bán và bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, nhưng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long không đưa những người này vào tham gia tố tụng là có thiếu sót. Tòa án đã khắc phục kịp thời.

[1.3] Về việc vắng mặt một số người làm chứng tại phiên tòa: giai đoạn điều tra họ đã có lời khai về những vấn đề mình biết liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ vẫn đảm bảo thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung truy tố:

[2.1] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng về thời gian, địa điểm, phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo và vật chứng bị thu giữ. Quá trình thu giữ, niêm phong, bảo quản, giao nhận vật chứng có sự chứng kiến của các bị cáo, người làm chứng và tiến hành giám định chất ma túy theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, trung thực và có cơ sở khoa học, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh Q, bản ảnh, sơ đồ hiện trường, biên bản nhận dạng, cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Quá trình tố tụng, các bị cáo tự nguyện khai báo, không bị ai ép cung, mớm cung hoặc dùng nhục hình. Các bị cáo thừa nhận việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 16 đến ngày 17 tháng 3 năm 2024, tại khu vực gầm cầu B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Đào Trung Q có hành vi 03 lần bán trái phép chất ma túy loại Heroine cho Phạm Văn T với tổng số tiền là 1.300.000 đồng. Ngoài ra, Q còn tàng trữ 0,94 gam ma túy loại Heroine tại nơi ở của mình với mục đích để bán.

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 17 tháng 3 năm 2024, tại đoạn đường thuộc tổ B, khu B, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,287 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố H phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng.

[2.2] Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...

c, Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam..."

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:....

b) Phạm tội 02 lần trở lên...”.

Heroine là chất ma túy quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ. Các bị cáo không được phép mua bán, tàng trữ, sử dụng chất ma túy theo quy định pháp luật.

Tại Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007, (được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư liên tịch số: 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015) của Bộ C2, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII: Các tội phạm về ma túy của Bộ luật Hình sự quy định:...

“3.3. “Mua bán trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây:

a) Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có)...

e) Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;”...

[2.3] Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc mua bán, tàng trữ, sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có cơ sở pháp luật.

[2.4] Hành vi phạm tội của các bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an xã hội, làm bất bình trong quần chúng nhân dân địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm lan truyền bệnh tật và các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh.

[2.5] Các bị cáo không cùng cố ý thực hiện một tội phạm nên không có đồng phạm trong vụ án mà phạm tội độc lập.

[2.6] Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo Q có bố đẻ là người có công với N1, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến, Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Đối với hình phạt chính: căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo Q có nhân thân rất xấu, đã 02 lần bị kết án về các tội về ma túy, sau khi chấp hành xong hình phạt tù không lấy đó làm bài học sửa đổi, tu dưỡng bản thân, lần này lại tiếp tục phạm tội về ma túy, điều đó chứng tỏ thái độ coi thường pháp luật, khó cải tạo, giáo dục. Bị cáo T cũng mua ma túy nhiều lần của Q để sử dụng, mặc dù lần này mới bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ được vật chứng. do đó cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi, số lần phạm tội và lượng ma túy bị thu giữ của các bị cáo, không những nhằm trừng trị mà còn để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng được mục đích của hình phạt.

[3.2] Đối với hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự thì các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy các bị cáo là đối tượng đã từng sử dụng ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[4] Về vật chứng của vụ án: số ma túy thu của các bị cáo hoàn lại sau khi giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 02 sim điện thoại thu giữ của các bị cáo là công cụ phạm tội, không còn giá trị cần tịch thu và tiêu hủy; 02 chiếc điện thoại di dộng thu giữ của các bị cáo là công cụ phạm tội, còn giá trị, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; số tiền 1.300.000 đồng bị cáo Q thu được do bán ma túy cho bị cáo T mà có cần tịch thu (truy thu) nộp ngân sách Nhà nước; chiếc xe mô tô thu giữ của bị cáo Q không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

[5] Đối tượng bán ma túy cho bị cáo Q không rõ lai lịch, địa chỉ nên không đủ cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Đào Trung Q 08 (tám) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 18 tháng 3 năm 2024).
  2. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Phạm Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 17 tháng 3 năm 2024).
  3. Căn cứ vào: khoản 1; các điểm a, b và c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021):
    • + Tịch thu và tiêu hủy: số ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong các số: 385/KL-KTHS ngày 21/3/2024 và 393/KL- KTHS ngày 25/3/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh Q; 01 (một) cuộn băng dính màu đen; 02 (hai) sim gắn trong 02 (hai) điện thoại thu giữ của các bị cáo;
    • + Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 7) màu trắng bạc; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ đen;
    • + Trả lại cho bị cáo Đào Trung Q 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn xám đen biển kiểm soát 14B1-655.98 đã qua sử dụng.

    Tình trạng những vật chứng nêu trên theo Biên bản giao vật chứng, tài sản số: 224/BB-THA ngày 02 tháng 7 năm 2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

    • + Tịch thu (truy thu) của bị cáo Đào Trung Q số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng).
  4. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: buộc các bị cáo Đào Trung QPhạm Văn T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Căn cứ vào: các khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021): các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND TP. Hạ Long;
  • - VKSND T. Quảng Ninh;
  • - CQ điều tra, CQ Hồ sơ nghiệp vụ và
  • CQ THAHS Công an TP. Hạ Long;
  • - Trại tạm giam, Công an T. Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TP. Hạ Long;
  • - TAND T. Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp T. Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ; Lưu TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 168/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Từ ngày 16 đến ngày 17 tháng 3 năm 2024, tại khu vực gầm cầu B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Đào Trung Q có hành vi 03 lần bán trái phép chất ma túy loại Heroine cho Phạm Văn T với tổng số tiền là 1.300.000 đồng. Ngoài ra, Q còn tàng trữ 0,94 gam ma túy loại Heroine tại nơi ở của mình với mục đích để bán. Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 17 tháng 3 năm 2024, tại đoạn đường thuộc tổ B, khu B, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,287 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố H phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger