|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 168/2024/HS-ST Ngày: 26-11-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Nguyệt Mai
Ông Lâm Văn Vô
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm– Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 179/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 183/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lâm Tuấn D, sinh ngày 30 tháng 01 năm 1999 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: NamNơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 325 lô H chung cư H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (đã xóa hộ khẩu); Chỗ ở: Không nơi ở nhất định Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Hùng S; con bà: Lâm Ngọc M (Mi); Chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 23/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, do có kháng cáo đến ngày 20/11/2018 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 14/7/2019 đã chấp hành xong hình phạt tù (đến ngày 12/6/2024 thi hành xong bản án); Tiền sự: Ngày 22/12/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 21 (hai mươi mốt) tháng, đến ngày 26/5/2023 đã chấp hành xong quyết định; Ngày 27/02/2024 Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 21 (hai mươi mốt) tháng, đến ngày 06/8/2024 Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Lâm Đồng ra quyết định tạm đình chỉ cai nghiện bắt buộc.
Nhân thân: Ngày 16/9/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, do có kháng cáo nên đến ngày 11/12/2015 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 (tám) tháng 22 (hai mươi hai) ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”, do đã chấp hành xong hình phạt tù nên được trả tự do tại phiên tòa (đã chấp hành xong bản án); Ngày 25/12/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 21 (hai mươi mốt) tháng, đến ngày 03/6/2021 đã chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2024 (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Trần Bửu T, sinh năm 1960; Nơi cư trú: A N, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm Tuấn D và tên T1 (không rõ lai lịch) là bạn bè quen biết với nhau từ trước. Với mục đích tìm người có tài sản sơ hở để trộm cắp nên vào ngày 03/12/2023, T1 rủ D đi trộm cắp tài sản thì D đồng ý. Vào khoảng 15 giờ ngày 03/12/2023, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Kawasaki Max (không rõ biển số) chở theo D ngồi phía sau đi lòng vòng qua nhiều tuyến đường. Khi cả hai đến giao lộ N - T, Phường A, Quận E thì phát hiện có vụ va chạm của 02 xe mô tô gồm: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 59H2-121.12 do ông Trần Bửu T điều khiển và 01 xe mô tô biển số 59C1-175.37 do ông Nguyễn Trần V điều khiển, ông T bị ngã xuống mặt đường và được ông V đỡ đứng dậy. T1 dừng xe đậu trên lề đường để D đi đến chỗ xảy ra va chạm, phát hiện trên xe còn cắm chìa khoá nên lợi dụng lúc ông T sơ hở, ông T không để ý, D dựng và dắt 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 59H2-121.12 của ông T và điều khiển xe bỏ chạy tẩu thoát. T1 điều khiển xe mô tô hiệu Kawasaki Max chạy theo sau D cùng đến địa chỉ số A ấp A, xã B, huyện B để T1 cất 01 xe mô tô hiệu Kawasaki Max. Sau đó, D cùng T1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 59H2-121.12 đến bán cho 01 đối tượng tên T2 (không rõ lai lịch) với giá 4.300.000 đồng, rồi chia nhau để tiêu xài. Mở rộng điều tra, vào ngày ngày 06/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q phát hiện và đưa Lâm Tuấn D về làm việc. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan điều tra Công an Q thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lâm Tuấn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án: 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX, biển số: 59H2-121.12 (không thu hồi được).
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 135/KL-HĐĐGTS ngày 14/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E, kết luận: Xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX, biển số: 59H2-121.12 đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80% có trị giá 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Bửu T yêu cầu bị cáo bồi thường tài sản đã bị chiếm đoạt với tổng giá trị là 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).
Bản cáo trạng số: 172/CT-VKSQ5 ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lâm Tuấn D về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lâm Tuấn D về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lâm Tuấn D với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; về vật chứng không thu giữ nên đề nghị không xem xét giải quyết; về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại theo quy định pháp luật.
Bị cáo Lâm Tuấn D không có ý kiến bào chữa, không tranh luận, đồng ý bồi thường thiệt hại với số tiền bị hại đã yêu cầu và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Lâm Tuấn D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của các bị hại, biên bản nhận dạng, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản đối chất và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Lâm Tuấn D cùng với đối tượng tên T1 chưa rõ lai lịch đã có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở của ông Trần Bửu T khi bị va chạm xe tại giao lộ N - T, Phường A, Quận E rồi chiếm đoạt 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX, biển số: 59H2-121.12 của ông T. Theo kết luận định giá tài sản số: 135/KL-HĐĐGTS ngày 14/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: Chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX, biển số: 59H2-121.12 đã qua sử dụng trị giá 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng). Do đó, hành vi của bị cáo Lâm Tuấn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Bị cáo có tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích và có nhân thân xấu nhưng bị cáo không biết sửa đổi, rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” được quy định tài điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[8] Đối với đối tượng tên T1 cùng tham gia trộm cắp tài sản với bị cáo D, hiện chưa xác định được lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào bắt dược sẽ xem xét xử lý sau.
[9] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Bửu T yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do tài sản đã bị chiếm đoạt với số tiền là 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng). Xét thấy tại phiên tòa bị cáo D tự nguyện đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của các bị hại, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự nên Hội đồng xét xử xem xét ghi nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 53; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lâm Tuấn D 02 (hai) năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 8 năm 2024.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 357; Khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Lâm Tuấn D bồi thường cho bị hại ông Trần Bửu T số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bị hại ông Trần Bửu T có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thanh toán khoản tiền bồi thường thiệt hại nêu trên, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng trên số tiền mà bị cáo phải chịu bồi thường.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |
Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 168/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 168-Lâm Tuấn D-Trộm cắp tài sản
