|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 168/2024/HS-PT Ngày: 03-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Võ Ngọc Thông |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Tồn |
| Ông Lê Tự |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Minh Lộc, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đã xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo Phạm Văn C, Phạm Văn C1 về tội “Giết người” do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HS-ST ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Phạm Văn C, sinh ngày 05/10/1989, tại tỉnh Quảng Ngãi; trú tại: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Hrê; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1957 và bà Phạm Thị R, sinh năm 1965; bị cáo có vợ là Phạm Thị N, sinh năm 1994, có 01 con sinh năm 2012; tiền án: 01; tiền án: Ngày 19/4/2018, bị TAND huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 01/5/2020 chấp hành xong hình phạt tuy nhiên bị cáo chưa chấp hành Quyết định về dân sự của bản án; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2023, có mặt tại phiên tòa.
2. Phạm Văn C1, sinh ngày 15/5/1983, tại tỉnh Quảng Ngãi; trú tại: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Hrê; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1957 và bà Phạm Thị R, sinh năm 1965; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2023, có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác:
- Người bào chữa cho các bị cáo: Luật sư Đinh Văn H – Văn phòng luật sư Văn H. Địa chỉ: E N, thành phố K, tỉnh Kon Tum, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 00 ngày 15/01/2023, Phạm Văn C1 và Phạm Văn C uống rượu tại nhà ông A N1. Được khoảng 30 phút thì A N1 rủ C, C1 đến nhà A T và Y T1 ở thôn V, xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum để tiếp tục uống rượu tại nhà bếp của A T. Nhậu đến khuya thì có Phạm Văn K đến nhậu cùng. Nhậu đến khoảng 23 giờ 00 thì giữa Kiền và C xảy ra mâu thuẫn, hai bên lời qua tiếng lại cãi vã nhau; vì bực tức nên C đã dùng tay đánh vào má phải của K 01 cái, Kiền bực tức nên đã đứng dậy rủ A M về không uống rượu nữa.
Khi về đến nhà A M thì K lấy 01 con dao rựa tại nhà A M (có đặc điểm, kích thước: dao dài 50,5 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 24,5 cm, mũi cong, bản rộng 3,7 cm, cán bằng gỗ, hình trụ) nói đi tìm chém Chen. A M có can ngăn nhưng K vẫn ra khỏi nhà đi tìm C, vì lo sợ K dùng dao chém C nên A M đã gọi điện thoại cho A T để báo sự việc Kiền đang tìm chém Chen. Kiền khi đi được nửa đường thì từ bỏ ý định dùng dao đánh C nên đã quay trở về nhà của A M và vào trong nhà để đi ngủ.
Khi C1, C, A N1, A T vẫn đang uống rượu tại nhà A T thì nhận được điện thoại của A M, A T đưa C nghe điện thoại và mở loa ngoài cho mọi người cùng nghe thì được A M thông bảo nội dung: “Thằng K đang cầm rựa chuẩn bị qua chém mày”; nghe xong Chen bực tức tắt điện thoại và nói với Phạm Văn C1: “Thằng K cầm dao đi kiếm chém em” bằng tiếng dân tộc Hre rồi đứng dậy vào bếp nhà A T lấy một con dao (có đặc điểm, kích thước: Dao có chiều dài 7 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 33 cm, mũi bằng, rộng 06 cm, lưỡi sắc, cán dao bằng gỗ, hình trụ) và nói: “ Lấy dao đi kiếm chém thẳng Kiền”, C1 nghe C nói xong thì cũng lấy một con dao rựa ở bếp nhà A T (có đặc điểm, kích thước: Dao dài 68,5 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 31 cm, mũi cong, bản rộng 04 cm, cán dao bằng gỗ hình trụ), sau đó đi bộ đến nhà A M tìm đánh K; C đi trước, C1 đi sau.
Khi đến trước nhà A M, C đứng ở gần chân cầu thang bắc từ dưới đất lên sàn nhà, C chửi: “Mẹ mày K, mày xuống đây tao chém chết mày” rồi định xông vào nhà A M, A M trông thấy C cầm dao nên đến đứng chặn, dang hai tay ở ngay chân cầu thang, can ngăn C và nói: “Thôi, thôi về đi” rồi đẩy C không cho lên nhà; lúc đó C nhìn thấy K đi từ trong nhà A M đi ra, trên tay tay cầm dao rựa và bước xuống cầu thang, C lúc này dùng tay trái ôm người Méo và gạt đẩy M ra khỏi chân cầu thang, rồi dùng tay phải cầm dao đưa lên cao, vung từ sau ra
trước, từ trên xuống dưới nhằm vào vị trí vùng đầu của K để chém một nhát trúng vào vùng trán bên phải của K; K sau khi bị chém thì la lên: “Chen mày chém tao rồi”, bước lùi lại sảnh trước nhà và A M dùng tay đẩy K vào sát trước của nhà. Ngay lúc này Phạm Văn C1 đứng ở phía sau lưng C nhìn thấy C chém K bị thương, C1 cầm dao rựa trên tay phải xông lên chém Kiền thì bị M ôm giữ Chia lại, C1 không chém được K nên C1 tiếp tục ném con dao vào người Phạm Văn K nhưng không trúng. Kiền bỏ được vào trong nhà M và đóng cửa lại. Chen và C1 vẫn hung hãn định xông lên nhà đánh K nhưng bị A M đẩy ra không cho vào nhà. Do không tiếp tục đánh K được nữa nên C, C1 dừng ở dưới sân, C tiếp tục chửi lớn: “Đ.Mẹ mày, mày xuống đây tao chém chết tao”, C1 cũng chửi: “Đ.Mẹ mày, mày ngon mày xuống đây mày chết với tao”. Sau đó C cầm dao cùng C1 đi về đến nhà A N1 rồi lấy xe mô tô trước đó gửi ở đây rồi đi đến nhà A B (tại xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum) là bạn của C1 để ngủ nhờ. Đến 7 giờ ngày 16/01/2023, C và C1 cầm theo con dao đến nhà A H1 (tại xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum) để uống rượu, khi tới nhà A H1, C đã cất giấu con dao vào gầm nhà sàn. C và C1 ngồi chơi đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì điều khiển xe mô tô rời đi, đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi C và C1 đang điều khiển xe mô tô đến thôn V (thôn E), xã P, huyện K, tỉnh Kon Tum thì bị lực lượng Công an huyện K phát hiện và bắt giữ.
Đối với Phạm Văn K, sau khi bị C chém và bị C1 dùng dao ném đã bỏ được vào trong nhà, đóng cửa lại. Khi C và C1 bỏ đi, K được A M và người dân trong làng đưa đi cấp cứu.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 53/KLTTCT-TTPY ngày 17/3/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh K kết luận tỷ lệ tổn thương của Phạm Văn K tại thời điểm giám định là 34% (Ba mươi tư phần trăm).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HS-ST ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đã quyết định:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn C, Phạm Văn C1 phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Án lệ số 47/2021/AL của Hội đồng Thẩm phán.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/01/2023).
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Án lệ số 47/2021/AL của Hội đồng Thẩm phán. Xử phạt: bị cáo Phạm Văn C1 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/01/2023).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/12/2023 bị cáo Phạm Văn C và ngày 21/12/2023 bị cáo Phạm Văn C1 làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Bị cáo Phạm Văn C và bị cáo Phạm Văn C1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ; Bị cáo nhận thức được hành vi của mình tuy nhiên vì nóng nảy nên đã phạm tội và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Mặt khác, cả 02 bị cáo đều là người dân tộc ít người, trình độ văn hoá thấp nên cũng hạn chế về nhận thức pháp luật; là lao động chính của gia đình, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.
Ý kiến của bị cáo Phạm Văn C1 và Phạm Văn C: Thống nhất như ý kiến của Luật sư.
Ý kiến Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo còn trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.
Về nội dung: Tội danh của bị cáo đã rõ; về hình phạt trên cơ sở các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo C 13 năm 06 tháng tù; bị cáo C1 09 năm tù là phù hợp, không nặng, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo Phạm Văn C và bị cáo Phạm Văn C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng rạng sáng ngày 16/01/2023, khi uống rượu, Phạm Văn K và Phạm Văn C có xích mích; khi được thông báo về việc K mang rựa đi tìm đánh C, C và C1 bực tức nên mỗi bị cáo đã lấy một con dao rựa đi đến nhà A M tìm K. Mặc dù K đã từ bỏ ý định đánh C và đi ngủ nhưng tại nhà M, C và C1 chửi bới, đòi đánh K; tuy được M can ngăn nhưng C cũng đã chém vào đầu K, tổng tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 34%, trong đó vết thương nứt sọ trái phải tỷ lệ thương tật là 23%; với hành vi dùng dao rựa nhằm thẳng vào đầu người bị hại để chém; dù thấy rõ bị hại đã bị chém trọng thương nhưng C không dừng lại mà vẫn tiếp tục xông vào chém nhưng do bị M ngăn cản nên hậu quả chỉ làm K bị thương tích. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo C đã phạm tội “Giết người” theo Án lệ số 47/2021/AL, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp có tính chất côn đồ, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự. Đối với C1 là người không có mâu thuẫn với K nhưng khi nghe K tìm đánh C và biết
C cầm dao tìm đánh K, bị cáo không những không ngăn cản mà còn cùng với C mang dao tìm đánh K; tại nhà A M, bị cáo cũng tích cực có lời nói, hành động đe doạ chém Kiền đồng thời cũng xông vào để chém người bị hại nhưng do bị ngăn cản nên bị cáo không thực hiện được; hành vi của bị cáo là đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực.
[3] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội; chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt nhưng bị cáo đã dùng rựa chém thẳng vào đầu bị hại thể hiện tính côn đồ, coi thường pháp luật, coi thường tính mạng của người khác, gây hoang mang, lo sợ trong nhân dân, gây mất an ninh trật tự trị an trên địa bàn. Đối với bị cáo C từng có tiền án về tội “Cố ý gây thương tích”, đã được đi cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà tiếp tục vi phạm. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Toà án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo đã xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: đối với bị cáo Phạm Văn C, ngày 19/4/2018, bị TAND huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 01/5/2020 chấp hành xong hình phạt nhưng chưa chấp hành về phầndân sự của bản án. Do đó, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng,quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo C1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại một phần thiệt hại 4.000.000 đồng và đồng ý trả tiếp số tiền còn lại. Với những tình tiết như nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo C 13 năm 06 tháng tù, bị cáo C1 09 năm năm tù là có phần nghiêm khắc. Xét thấy, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tuy không có tình tiết giảm nhẹ nào mới phát sinh ở cấp phúc thẩm nhưng cả 02 bị cáo đều là người dân tộc ít người, trình độ văn hoá thấp nên cũng hạn chế về nhận thức pháp luật; là lao động chính của gia đình, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn. Vì vậy, cũng cần xem xét giảm thêm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với cộng đồng xã hội, làm một người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên xử:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn C và bị cáo Phạm Văn C1, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HS-ST ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Án lệ số 47/2021/AL của Hội đồng Thẩm phán.
Xử phạt: bị cáo Phạm Văn C 12 (Mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/01/2023).
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Án lệ số 47/2021/AL của Hội đồng Thẩm phán.
Xử phạt: bị cáo Phạm Văn C1 08 (T2) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/01/2023).
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Việc thi hành án được thực hiện theo Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ, phí Tòa án: Các bị cáo không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Ngọc Thông |
Bản án số 168/2024/HS-PT ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự về tội giết người
- Số bản án: 168/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn C và bị cáo Phạm Văn C1, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HS-ST ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
