Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 168/2024/DS-ST

Ngày: 31-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Nguyệt Mai
  2. Ông Đoàn Hồng Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 77/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-DS ngày 11/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2024/QĐST-DS ngày 04/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Địa chỉ trụ sở: Số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành N

Địa chỉ: Số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy uỷ quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022, Giấy ủy quyền số 4416/2024/UQ-TGĐ ngày 22/5/2024)

(Vắng mặt – Đề nghị xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Trần H, sinh năm 1967

Địa chỉ thường trú: Số E P, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ cư trú khác: A8.03 chung cư H, Ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt – Đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2024 và tại các bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành được phiên hòa giải, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Phạm Trường T, ông Nguyễn Thành N trình bày:

Ngày 24/9/2018, ông Trần H có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (Áp dụng cho Khách hàng Cá nhân) ngày 24/9/2018 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (Đơn vị phát hành thẻ). Căn cứ thu nhập của ông Trần H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân. Loại thẻ tín dụng ông H đề nghị và được Ngân hàng cấp là thẻ V; mã số xác định chủ thẻ là 436438-6547; lãi suất là 2.4%/tháng (lãi suất trong hạn).

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Trần H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 82.323.170 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Trần H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 56.544.572 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Trần H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ngày 25/01/2022 ông Trần H vi p nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 26/3/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 55.522.996 đồng làm nợ gốc vì tổng số tiền khách hàng đã thanh toán trước khi thẻ bị chuyển quá hạn sẽ được trừ thanh toán cho các khoản phí, lãi trước, số tiền còn lại sẽ trừ vào số tiền đã giao dịch, cụ thể trừ vảo tổng tiền lãi trong hạn, phí trễ hạn thanh toán, phí vượt hạn mức, phí thường niên, phí rút tiền mặt...; số tiền còn lại sẽ trừ vào số tiền đã giao dịch. Do đó, sau khi trừ các khoản phí, lãi theo thứ tự thanh toán theo Điều 20 của Bản điều khoản, số dư nợ còn thiếu khi chuyển quá hạn là 55.522.996 đồng làm nợ gốc. Số dư nợ gốc được áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại. Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 55.522.996 đồng với lãi suất quá hạn là 3.6% / tháng (2.4% * 150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.

2

Tính đến ngày 31/7/2024, ông Trần H còn nợ các khoản sau:

  • - Nợ gốc: 55.522.996 đồng
  • - Lãi quá hạn: 57.233.452 đồng

Tổng cộng: 112.756.448 đồng (Một trăm mười hai triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng).

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông H có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông H vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu giải quyết các vấn đề sau:

1) Ông Trần H phải trả ngay cho Ngân hàng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 112.756.448 đồng (Một trăm mười hai triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng), trong đó:

  • - Nợ gốc: 55.522.996 đồng
  • - Lãi quá hạn: 57.233.452 đồng

2) Ông Trần H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Thẻ tín dụng của ông Trần H là thẻ tín dụng cá nhân, là nợ riêng của ông Trần H. Do đó, Ngân hàng xác định chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân ông Trần H có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, không liên quan tới cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khác.

Tại Bản tự khai ngày 31/7/2024, Đơn xin vắng mặt ngày 31/7/2024, ông Trần H trình bày:

Ngày 24/9/2018 ông có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S1 và sử dụng thẻ tín dụng được cấp với hạn mức được cấp 50.000.000 đồng. Ông xác nhận sau khi được cấp thẻ và sử dụng từ cuối năm 2018 đến ngày 25/7/2021 thì ngưng sử dụng. Qúa trình sử dụng đúng theo bảng sao kê của ngân hàng đã cung cấp cho Tòa án. Ông xác nhận tính đến ngày 31/7/2024 ông còn nợ Ngân hàng nợ gốc là 55.522.996 đồng, còn số nợ lãi quá hạn 57.233.452 đồng ông đồng ý mức lãi của ngân hàng T1 do hoàn cảnh hiện tại của ông đang khó khăn, mong Ngân hàng hỗ trợ giảm lãi. Đồng thời do bệnh nên ông đề nghị được vắng mặt tại các phiên xét xử của Tòa án.

Tại phiên tòa,

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

3

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng từ khi thụ lý đến khi xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn đã không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ có cơ sở để xác định ngày 24/9/2018, ông Trần H có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng; lãi suất trong hạn là 2.4%/tháng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn do đó yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây viết tắt là Ngân hàng S) khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông Trần H t số tiền còn nợ phát sinh từ việc sử dụng thẻ tín dụng của bị đơn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S (đơn vị phát hành thẻ) (sau đây gọi là bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng, được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi đăng ký thường trú tại số E P, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh theo Kết quả xác minh của Công an P, Quận E tại Công văn số 172/TAQ5 ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân Quận 5 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

4

[1.2] Về áp dụng pháp luật về nội dung để giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện ngày 21/02/2024 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp ký ngày 24/9/2018 nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án. Đối với pháp luật chuyên ngành về nội dung, từ ngày 01/7/2024, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 có hiệu lực thi hành tuy nhiên hợp đồng tín dụng giữa các bên được ký từ ngày 24/9/2018 và không thuộc trường hợp sửa đổi, bổ sung, gia hạn hợp đồng từ ngày Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 có hiệu lực thi hành theo khoản 2 Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 nên Hội đồng xét xử vẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các văn bản pháp luật liên quan để giải quyết vụ án.

[1.3] Về người tham gia tố tụng:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn đề nghị vắng mặt tại các phiên xét xử của Tòa án. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật số tiền tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 112.756.448 đồng (Một trăm mười hai triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng) trong đó: Nợ gốc là 55.522.996 đồng (năm mươi lăm triệu năm trăm hai mươi hai nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng); lãi quá hạn là 57.233.452 đồng (năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng) và đề nghị bị đơn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 01/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 do bị đơn đề nghị và được Ngân hàng S phê duyệt, các tóm tắt sao kê thẻ tín dụng của khách hàng Trần H, lời khai của bị đơn có cơ sở xác định bị đơn đã đề nghị nguyên đơn cấp thẻ tín dụng và được nguyên đơn chấp thuận phát hành và cấp cho bị đơn sử dụng thẻ tín dụng quốc tế loại VS Pay Wave Cre Platinum, mã số xác định chủ thẻ của bị đơn là 436438-6547, hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 2.4%/tháng.

Hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng S cho bị đơn dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng là phù hợp với quy định tại điểm d khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng. Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 có

5

hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 13 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng N1) nên có giá trị pháp lý, ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Căn cứ cam kết của bị đơn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng nêu trên có nội dung “bằng việc ký vào Giấy đề nghị này, tôi/chúng tôi xác định rằng tôi/chúng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện của thẻ tín dụng và cùng với Giấy đề nghị này, tạo nên một hợp đồng chi phối việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng S1, có tính ràng buộc về mặt pháp lý giữa tôi/chúng tôi và Sl”, như vậy việc cấp tín dụng của Ngân hàng S cho bị đơn và việc sử dụng dịch vụ tín dụng dưới hình thức thẻ tín dụng của bị đơn do Ngân hàng S cung cấp được điều chỉnh bởi Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 15/8/2016).

[2.2] Về việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bị đơn:

Căn cứ các Tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp, lời khai của bị đơn thể hiện quá trình sử dụng thẻ tín dụng của bị đơn từ ngày kích hoạt thẻ, bị đơn đã thực hiện các giao dịch và thanh toán cho Ngân hàng đến tháng 12/2021 thì ngưng thanh toán. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại phần cam kết của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 và Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên đến ngày 26/3/2022, Ngân hàng S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bị đơn và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Số dư nợ còn thiếu tại thời điểm chuyển nợ quá hạn được xác định là 55.522.996 đồng là đúng theo nội dung thỏa thuận tại Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

[2.3] Về số tiền vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bị đơn:

Về số tiền nợ gốc: Theo các bảng tóm tắt sao kê tài khoản Trần H, số thẻ: 436438-6547 thể hiện tính đến ngày 31/7/2024, bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 112.756.448 đồng (Một trăm mười hai triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng) trong đó: Nợ gốc là 55.522.996 đồng (năm mươi lăm triệu năm trăm hai mươi hai nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng). Số nợ gốc trên được nguyên đơn xác định từ số dư nợ còn thiếu tại thời điểm chuyển nợ quá hạn ngày 26/3/2022 với số tiền là 55.522.996 đồng. Việc Ngân hàng S chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm chuyển nợ quá hạn thành nợ gốc là đúng theo thỏa thuận tại Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

6

Số tiền nợ gốc nêu trên cũng được bị đơn xác nhận trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Về số tiền nợ lãi quá hạn: Theo các bảng tóm tắt sao kê tài khoản Trần H, số tiền lãi quá hạn là 57.233.452 đồng (năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng). Nguyên đơn tính nợ lãi quá hạn trên tổng số tiền nợ gốc 55.522.996 đồng với lãi suất quá hạn là 3.6%/tháng (2.4% x 150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là ngày 26/3/2022 tạm tính đến thời điểm xét xử là ngày 31/7/2024, thấy rằng:

Đối với lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn: Theo khoản 2 Điều 92 Luật Các tổ chức tín dụng quy định “tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Theo Điều 23 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng quy định “lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại) phù hợp với Điều 22 đối với toàn bộ dư nợ”. Theo Quyết định v/v ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ T2 phát hành tại Việt Nam số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của Ngân hàng S, lãi suất thẻ tín dụng quốc tế là 2.4 – 2.6%/tháng. Như vậy, việc Ngân hàng S tính lãi suất 2,4%/tháng và lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất 2.4%/tháng là 3.6%/tháng là phù hợp với thỏa thuận tại Điều 23 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và có căn cứ theo khoản 2 Điều 92 Luật Các tổ chức tín dụng.

Số dư nợ được chuyển thành nợ gốc từ ngày 26/3/2022 nên việc nguyên đơn áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn 3.6%/tháng từ kỳ thanh toán 25/4/2022 cho đến thời điểm Tòa án giải quyết vụ án là ngày 31/7/2024 theo bản Tóm tắt sao kê ngày 31/7/2024 với số tiền 57.233.452 đồng (năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng) là phù hợp với thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn tại Điều 23 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Xét trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày ý kiến xác nhận quá trình giao kết hợp đồng, sử dụng thẻ tín dụng và vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo đúng trình bày của nguyên đơn nhưng chưa có điều kiện để thanh toán cho nguyên đơn. Do đó, việc nguyên đơn tính đến ngày 31/7/2024, bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 112.756.448 đồng (Một trăm mười hai triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng) trong đó: Nợ gốc là 55.522.996 đồng (năm mươi lăm triệu năm trăm hai mươi hai nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng); lãi quá hạn là 57.233.452 đồng (năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng) là phù hợp theo các nội dung đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018, Bản Điều khoản

7

và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng; có căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 17 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng N1), khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên có cơ sở và được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Đối với yêu cầu kể từ ngày 01/8/2024, bị đơn vẫn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ là phù hợp với thỏa thuận tại Điều 23 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng; có căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm nên được chấp nhận.

[2.4] Về nghĩa vụ trả nợ của bị đơn:

Căn cứ cam kết về nghĩa vụ thanh toán của người đề nghị cấp tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 có nội dung “Tôi/chúng tôi chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng mà tôi/chúng tôi đã được cấp” và các quy định theo Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ chưa thanh toán cho nguyên đơn. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ theo đúng thời hạn đã thỏa thuận của bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự “bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...”. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ chưa thanh toán nêu trên là có cơ sở để chấp nhận.

Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 do cá nhân bị đơn đề nghị cấp, không đăng ký thẻ phụ cho cá nhân khác đồng thời nguyên đơn cũng xác định nghĩa vụ trả nợ của bị đơn phát sinh từ việc tiêu dùng cá nhân thông qua thẻ tín dụng được cấp nên nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bị đơn có nghĩa vụ trả nợ mà không yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khác nên việc buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ là có căn cứ quy định tại Điều 280, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ tháng 01/2022 đến nay, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán một lần các khoản nợ sau khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

8

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, buộc bị đơn phải có nghĩa trả một lần cho nguyên đơn số tiền là: 112.756.448 đồng (Một trăm mười hai triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng) trong đó: Nợ gốc là 55.522.996 đồng (năm mươi lăm triệu năm trăm hai mươi hai nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng); lãi quá hạn là 57.233.452 đồng (năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng) sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày 01/8/2024, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cho đến thanh toán xong.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật, số tiền án phí là 5.637.822 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm hai mươi hai đồng).

Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 2.457.454 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi bảy nghìn bốn trăm năm mươi bốn đồng).

[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 102, Điều 144, Điều 147, Điều 179, Điều 180, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 463, 465, 466, 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Áp dụng Luật Phí và lệ phí Tòa án năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc

9

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Áp dụng Điều 13, khoản 2 Điều 17 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:

Buộc ông Trần H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 112.756.448 đồng (Một trăm mười hai triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng) trong đó: Nợ gốc là 55.522.996 đồng (năm mươi lăm triệu năm trăm hai mươi hai nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng); lãi quá hạn là 57.233.452 đồng (năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng). Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần toàn bộ số tiền nêu trên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 01/8/2024, ông Trần H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cho đến khi thi hành án xong.

Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Hồ p1 chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.637.822 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm hai mươi hai đồng).

H1 lại số tiền tạm ứng án phí Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã nộp là 2.457.454 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi bảy nghìn bốn trăm năm mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0036027 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày

10

kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Linh Sương

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 168/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger