Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2024/DS-ST

Ngày: 28-11-2024.

V/v “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lưu Thị Thôi .
  2. Bà Trần Thị Thanh Nga.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Giang Ngọc Hà –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Nhã Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 288/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 375/2024/QĐXXST –DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 696/2024/QÐST-DS ngày 16/9/2024, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 46 ngày 30/9/2024, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1.

Trụ sở chính: Tháp B, A T, phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội.

Địa chỉ chi nhánh T4: số B đường T, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Tuấn K, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh T4. (Theo Quyết định số 963/QĐ-BIDV ngày 25/10/2021 về việc ủy quyền tham gia tố tụng của Ngân hàng TMCP Đ1).

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: (ủy quyền lại): Ông Phạm Thanh H- Trưởng phòng Khách hàng cá nhân (Theo quyết định số 123/QĐ-BIDV.BT ngày 17/11/2021 của Giám đốc Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh T4) .

* Bị đơn:

  1. Ông Phan Hồ Quang K1, sinh năm 1984.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1992.

Địa chỉ liên hệ: 423 T, khu phố A, phường P, thành phố P, Bình Thuận.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phan Hồ Bích K2, sinh năm 1977; Địa chỉ thường trú : Nhà số D, T, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  2. Bà Phan Hồ Quốc V và ông Phan Tâm Đ; Địa chỉ thường trú : Nhà số D, T, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận .
  3. Bà Phan Hồ Diễm C1, sinh năm 1979; Địa chỉ thường trú: Khu phố A, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn – Ông Phan Thanh H1, Bị đơn Phan Hồ Quang K1 có mặt tại phiên tòa ; Tất cả các đương sự còn lại trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/9/2023, và trong quá trình xét xử đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

[1] Vợ chồng ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C có ký kết hợp đồng tín dụng thế chấp tài sản để vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh T4 (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng B) cụ thể như sau:

[1.1] Theo Hợp đồng tín dụng số 3877/2019/2923553/HĐTD được ký kết ngày 05/12/2019 và Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng ngày 29/10/2020:

Ngân hàng B đã cho vợ chồng ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C vay số tiền gốc là: 1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng),Thời gian vay: 180 tháng (13/12/2019 – 13/12/2034); Kỳ hạn trả nợ: trả nợ gốc cho Ngân hàng định kỳ vào ngày 10 hàng tháng, bắt đầu trả từ tháng 01/2020, mức trả: 6.100.000 đồng/tháng, tháng cuối cùng trả 8.100.000 đồng. Lãi suất cho vay trong hạn: 10,9%/năm và được điều chỉnh vào các ngày 01/01 và 01/07 hàng năm theo lãi suất cho vay tại Ngân hàng. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Mục đích vay: Sửa chữa nhà ở.

[1.2] Theo Hợp đồng tín dụng số 1798/2020/2923553/HĐTD được ký kết ngày 03/09/2020:

Ngân hàng B đã cho vợ chồng ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C vay số tiền gốc là : 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng); Mục đích vay: Mua sắm vật dụng gia đình.Thời gian vay: 96 tháng (03/09/2020 – 03/09/2028); Kỳ hạn trả nợ: trả nợ gốc cho Ngân hàng định kỳ vào ngày 10 hàng tháng, bắt đầu trả từ tháng 10/2020, mức trả: 3.100.000 đồng/tháng, tháng cuối cùng trả 5.500.000 đồng. Lãi suất cho vay trong hạn: 10,9%/năm và được điều chỉnh vào các ngày 01/01 và 01/07 hàng năm theo lãi suất cho vay tại Ngân hàng. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Mục đích vay: Mua sắm vật dụng gia đình.

[2] Để đảm bảo cho khoản vay tại các hợp đồng tín dụng nêu trên ông Phan Hồ Quang K1 đã ký kết thế chấp tài sản cho Ngân hàng B theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 3876/2019/2923553/HĐBĐ ngày 05/12/2019, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 44, diện tích 232,1 m², mục đích sử dụng đất ở đô thị, vị trí đất tại Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận . Thửa đất này đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 382472 (số vào sổ cấp GCN là CH 03844) cấp ngày 11/07/2017, cập nhật biến động chủ sở hữu do nhận thừa kế cho ông Phan Hồ Quang K1 từ ngày 31/10/2019. Tài sản được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đ2 ngày 12/12/2019 (Quyển số 6, số thứ tự 8261).

[3] Trong thời gian vay vốn tại ngân hàng, ông K1 và bà C đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở thông báo nợ quá hạn và tạo điều kiện để bên vay có thời gian thu xếp nguồn trả nợ hoặc tự đứng ra bán tài sản để trả nợ Ngân hàng. Tuy nhiên, đến nay ông K1 và bà C vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng, vi phạm các cam kết tại các Hợp đồng tín dụng đã ký, những khoản vay trên hiện nay đang bị quá hạn và đã chuyển sang nợ xấu.

[4] Do vậy Ngân hàng B khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Buộc ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ1 khoản nợ tín dụng chưa thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, tính đến ngày tòa án giải quyết xét xử vụ án – ngày 28/11/2024, cụ thể là:

  • +Khoản nợ chưa thanh toán theo hợp đồng tín dụng số MERGEFIELD HDTD 3877/2019/2923553/HĐTD ngày văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng ngày 29/10/2020: Nợ gốc 752.300.000đ, nợ lãi trong hạn: 16.270.600đ, số tiền phạt quá hạn: 162.892₫.
  • +Khoản nợ chưa thanh toán theo hợp đồng tín dụng số MERGEFIELD HDTD 1798/2020/2923553/HĐTD ngày : Nợ gốc 151.200.000đ, nợ lãi trong hạn: 3.039.385₫, số tiền phạt quá hạn: 47.280 đ.
  • + Kể từ ngày 29/11/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ tín dụng nêu trên bà C và ông K1 vẫn phải thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết.

[2] Trong trường hợp ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C trả nợ một phần hoặc không trả nợ thì Ngân hàng B được quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền kê biên,phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 3876/2019/2923553/HĐTD ngày là :

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 44, địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; tài sản thế chấp đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 382472, ngày 11/7/2017, đăng ký chủ sở hữu do nhận thừa kế cho ông Phan Hồ Quang K1 ngày 31/10/2019.

* Về án phí: Đề nghị Tòa án buộc Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

* Về chi phí tố tụng: Đề nghị Tòa án buộc Bị đơn phải chịu chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.

*Tại bản tự khai và biên bản làm việc ngày 03/11/2023 của Tòa án thành phố P, tại phiên tòa Bị đơn - Ông Phan Hồ Quang K1 trình bày:

Vợ chồng ông K1 bà C có vay tiền của Ngân hàng B – Chi nhánh T4, theo các Hợp đồng tín dụng số 3877/2019/2923553/HĐTD ngày và Hợp đồng tín dụng số 1798/2020/2923553/HĐTD ngày, văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng ngày 29/10/2020 .Các khoản vay này vợ chồng ông vay để phục vụ sửa chữa nhà, mua sắm vật dụng gia đình .

Quá trình vay vốn ông đã cố gắng thực hiện trả nợ gốc và lãi đúng theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, tuy nhiên thời gian gần đây do tình hình kinh tế suy thoái các doanh nghiệp mua hàng của ông chậm thanh tóan tiền, nên ông bà không xoay xở trả nợ được cho Ngân hàng theo cam kết;

Nay Ngân hàng B khởi kiện, ông xác định về số nợ gốc và lãi vợ chồng ông chưa thành toán cho Ngân hàng đúng như đại diện theo ủy quyền Nguyên đơn đã trình bày và vợ chồng ông đồng ý trả nợ nhưng đề nghị Ngân hàng cho thêm thời gian để vợ chồng ông bà xoay xở trả nợ.

Đối với tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay tín dụng trên theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 3876/2019/2923553/HĐTD ngày đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 44, địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thì quyền sử dụng đất là tài sản riêng của ông nhận thừa kế từ gia đình cha mẹ ông, nhưng phần nhà trên đất là do vợ chồng vay tiền sửa lại căn nhà của cha mẹ để thừa kế cho ông trên đất.

Do vậy khi vợ chồng ông không có khả năng thanh toán khoản nợ tín dụng thì ông đồng ý phát mãi tài sản này theo hợp đồng thế chấp đã ký kết với Ngân hàng B, để trả nợ khoản vay tín dụng nêu trên;

* Tại bản tự khai và biên bản làm việc ngày 03/11/2023 của Tòa án thành phố P, Bị đơn - Bà Nguyễn Thị Kim C trình bày:

Bà xác nhận: Khoản vay theo các hợp đồng tín dụng số MERGEFIELD HDTD 3877/2019/2923553/HĐTD ngày và hợp đồng tín dụng số MERGEFIELD HDTD 1798/2020/2923553/HĐTD ngày là khoản vay chung của vợ chồng ông bà, vay tiền để mua sắm vật dụng gia đình và sửa chữa nhà cửa;

Bà đề nghị Ngân hàng B kéo dài thời gian trả nợ để vợ chồng ông bà xoay xở tìm cách thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng.

Về tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay tín dụng là tài sản riêng của ông K1, bà không có ý kiến gì nếu ông K1 đồng ý phát mãi tài sản thế chấp nêu trên, theo Hợp đồng thế chấp để thanh toán nợ Ngân hàng B, trong trường hợp vợ chồng không thanh toán được khoản nợ tín dụng nêu trên.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra thông báo bổ sung bà Phan Hồ Bích K2, bà Phan Hồ Quốc V và ông Phan Tâm Đ, bà Phan Hồ Diễm C1, tham gia tố tụng trng vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các ông bà có tên trên đã nhận được Thông báo của Tòa án, nhưng không gửi văn bản trình bày ý kiến, hoặc liên hệ với Tòa án để Tòa án ghi nhận ý kiến về việc giải quyết vụ án .

* Tòa án đã hai lần thông báo mở phiên họp hòa giải nhưng Bị đơn và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt, nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được theo quy định tại khoản 01 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề xuất ý kiến về việc giải quyết nội dung vụ án như sau:

Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, tiến hành các thủ tục thu thập chứng cứ và tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng đúng theo quy định Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa có mặt đúng thành phần trong quyết định xét xử và đã tuân thủ đúng các quy định Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Về phía người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng và thực hiện đầy đủ các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tống tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự ; Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ Quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần 02 không có lý do, do vậy Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 02 điều 227 và khoản 03 điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 91, 93 BLTTDS năm 2015; Điều 299, 317, 318, 319, 323, 357, 463, 466; 468 BLDS năm 2015; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010; Điều 27, 30, 37 Luật HNGĐ; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 28/11/2024. Kể từ ngày 29/11/2024, ông K1 và bà C phải tiếp tục trả các khoản tiền lãi cho Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh T4 theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi trả hết nợ.

Nếu ông K1 và bà C không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ hoặc không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng, Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất của ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C đang thế chấp tại Ngân hàng để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán nợ vay, ông K1 và bà C có nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ nợ vay với Ngân hàng B.

Về án phí và chi phí tố tụng, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định của BLTTDS năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

* Về thủ tục tố tụng:

[1] Theo đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ do Nguyên đơn cung cấp thì Bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Quan hệ pháp luật tranh chấp xác định theo yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là tranh chấp hợp đồng tín dụng, do vậy vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố P, theo quy định tại khoản 03 điều 26, điểm a khoản 01 điều 35, điểm a khoản 01 điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự;

[2] Về sự vắng mặt của Bị đơn – Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ kiện Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng và triệu tập đối với Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, theo quy định pháp luật. Tuy nhiên Bị đơn Nguyễn Thị Kim C và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử sơ thẩm vắng mặt theo qui định tại khoản 02 điều 227 và khoản 03 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

*Về giải quyết nội dung tranh chấp:

[1] Về Hợp đồng tín dụng:

Xét nội dung Hợp đồng tín dụng số 3877/2019/2923553/HĐTD ngày và Hợp đồng tín dụng số 1798/2020/2923553/HĐTD ngày, văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng ngày 29/10/2020, được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 ( Sau đây gọi tắt là Ngân hàng B) và vợ chồng ông Phan Hồ Quang K1 bà Nguyễn Thị Kim C cho thấy :

Theo thỏa thuận tại hợp đồng thì: Ngân hàng B cho vợ chồng ông K1 bà C vay số tiền gốc tổng cộng là 1.400.000.000đ, lãi suất cho vay trong hạn: 10,9%/năm và được điều chỉnh vào các ngày 01/01 và 01/07 hàng năm theo lãi suất cho vay tại Ngân hàng. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Kỳ hạn trả nợ gốc và lãi theo từng phân kỳ và trả vào ngày 10 hàng tháng.

Xét thấy các bên tham gia giao kết hợp đồng một cách tự nguyện, không bị cưỡng ép lừa dối, nội dung thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nêu trên không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại điều 463 Bộ luật dân sự 2015, khoản 16 Điều 4, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017), nên các hợp đồng này là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên;

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng Ngân hàng B đã giải ngân, chuyển tiền số tiền vay gốc là 1,4 tỷ đồng cho vợ chồng ông Phan Hồ Quang K1, theo đúng nội dung thỏa thuận đã ký kết.

Tuy nhiên từ ngày 10/01/2023 vợ chồng ông Phan Hồ Quanh K3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi và gốc cho Ngân hàng theo các thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã thông báo nợ quá hạn và trực tiếp làm việc yêu cầu trả nợ nhưng vợ chồng ông K3 bà C vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Quá trình tòa án giải quyết vụ kiện, vợ chồng ông K3 bà C đã nhận thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và tài liệu hồ sơ khởi kiện của Nguyên đơn cung cấp, đồng thời ông bà cũng đã cung cấp bản khai, trình bày ý kến xác nhận về việc đã ký kết và vay tiền Ngân hàng B theo các hợp đồng tín dụng nêu trên, nhưng ông bà cũng không tham gia hòa giải, tìm phương án thanh toán nợ.

Mặt khác khoản vay tại các hợp đồng tín dụng nêu trên được vợ chồng ông K3 bà C thực hiện nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình ông bà và phát sinh trong thời điểm hôn nhân hợp pháp đang tồn tại, do vậy ông K3 bà C phải có trách nhiệm liên đới thanh toán khoản nợ tín dụng nêu trên cho Ngân hàng B, theo quy định tại khoản 02 điều 37, khoản 02 điều 27 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Như vậy Nguyên đơn- Ngân hàng B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc vợ chồng ông K3 bà C thanh toán trả nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, là có căn cứ phù hợp quy định tại điều 466 Bộ luật dân sự 2015, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017), nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tính đến ngày tòa án xét xử giải quyết vụ án (Ngày 28/11/2024), khoản nợ tín dụng ông K3 bà C chưa thanh toán cho Ngân hàng B, cụ thể là:

  • +Khoản nợ chưa thanh toán theo hợp đồng tín dụng số MERGEFIELD HDTD 3877/2019/2923553/HĐTD ngày văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng ngày 29/10/2020 gồm: Nợ gốc 752.300.000đ, nợ lãi trong hạn: 16.270.600đ, số tiền phạt quá hạn: 162.892₫.
  • +Khoản nợ chưa thanh toán theo hợp đồng tín dụng số MERGEFIELD HDTD 1798/2020/2923553/HĐTD ngày, gồm: Nợ gốc 151.200.000đ, nợ lãi trong hạn: 3.039.385đ, số tiền phạt quá hạn: 47.280 đ.

Tổng cộng 923.020.157đ, trong đó nợ gốc phải thanh toán: 903.500.000đồng, nợ lãi trong hạn 19.309.985đ, số tiền lãi phạt quá hạn: 210.172 đồng.

Đối với số tiền lãi phạt quá hạn, theo cách tính của Ngân hàng là lãi chồng lãi, mạt khác đối với một hành vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nhưng Ngân hàng đã tính hai lần phạt, phạt lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, đồng thời còn phạt lãi chậm trả, vi phạm quy định tại khoản 01 điều 12 Nghị quyết 01/2019 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Tuy nhiên Bị đơn chấp nhận và đồng ý trả khoản tiền lãi này, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất bảo đảm cho khoản vay tại hợp đồng tín dụng :

[2.1]Xét thấy tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay tín dụng trên theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 3876/2019/2923553/HĐTD ngày, là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 44, địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận ( Sau đây gọi tắt là thửa đất 44).

Tài sản thế chấp là tài sản riêng của ông K3 nhận thừa kế từ gia đình cha mẹ ông, và đã được UBND thành phố P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 382472 ngày 11/7/2017, đăng ký chủ sở hữu do nhận thừa kế cho ông Phan Hồ Quang K1 từ ngày 19/10/2019.

Như vậy tài sản thế chấp đủ điều kiện để thế chấp. Đồng thời hợp đồng thế chấp được ký kết một cách tự nguyện có công chứng chứng thực, việc thế chấp tài sản có đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo qui định pháp luật. Do vậy, về tính pháp lý hợp đồng thế chấp trên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về nội dung cũng như hình thức của pháp luật dân sự về giao dịch bảo đảm được quy định tại Điều 298 Bộ luật dân sự 2015; khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163. Theo đó thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực thi hành, theo quy định pháp luật đã viện dẫn.

Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn không thanh toán được khoản nợ tín dụng, được bảo đảm bởi tài sản thế chấp nêu trên là có căn cứ, theo quy định tại khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự 2015 và phù hợp với các thỏa thuận của hợp đồng thế chấp, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]Về tài sản gắn liền trên thửa đất:

Tài sản gắn liền trên đất mà vợ chồng ông K1 bà C đang trực tiếp quản lý sử dụng là căn nhà xây một trệt 01 lầu có diện tích 67,4 m², nhà chưa được cấp giấy chứng nhận sở hữu gắn liền với đất, nhưng cũng nằm trong phạm vi thế chấp theo thỏa thuận của các bên tại Điều 02 Hợp đồng thế chấp tài sản số MERGEFIELD HDTD 3876/2019/2923553/HĐTD ngày

Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/4/2024 và ngày 15/11/2024 của Tòa án, thì trên phạm vi thửa đất số 32, tờ bản đồ số 44, ngoài căn nhà do vợ chồng ông Phan Hồ Quang K1 là bên thế chấp sử dụng thì còn có 03 khối nhà do người khác sử dụng (không phải là bên thế chấp), cụ thể:

  • Bà Phan Hồ Bích K2 (chị ruột ông K1 ) đang quản lý sử dụng căn nhà có diện tích 55m² ( nhà một trệt một lầu).
  • Bà Phan Hồ Quốc V và ông Phan Tâm Đ sử dụng phần nhà có diện tích 34m² ( nhà một trệt một gác lửng ).
  • Bà Phan Hồ Diễm C1 đang sử dụng phần nhà có diện tích xây dựng 24,1 m² (Trong đó nhà xây có diện tích 14,8 m², nhà tạm có diện tích 9,3 m² )

Tại thời điểm nhận thế chấp và ký kết hợp đồng thế chấp Ngân hàng và ông K1 bà C đều biết rõ có các căn nhà của các ông bà nêu trên đang tồn tại trên thửa đất nhận thế chấp, nhưng các bên chỉ thỏa thuận thế chấp tài sản gồm toàn bộ quyền sử dụng đất của thửa đất số 32 và căn nhà có diện tích 67,4 m² mà vợ chông ông K1 bà C đang sử dụng, giữa Ngân hàng, ông K1 bà C đã không yêu cầu các ông bà đang sử dụng các căn nhà trên thỏa thuận về nội dung hợp đồng thế chấp hoặc cam kết bàn giao nhà khi xử lý tài sản thế chấp .

Tuy nhiên Hợp đồng thế chấp tài sản số 3876/2019/2923553/HĐTD ngày, có nội dung và hình thức phù hợp quy định pháp luật, như đã phân tích, do vậy theo quy định tại Điều 318, Khoản 02 Điều 325 Bộ luật dân sự và Án lệ số 11/2017/AL được công bố theo Quyết định số 2999/QĐ-CA ngày 28/12/2017 của Chánh án Tòa án Tối cao, thì việc các chủ sở hữu tài sản không phải là bên thế chấp đang sử dụng các công trình trên thửa đất thế chấp không tham ký kết thế chấp với Ngân hàng, cũng không làm mất đi tính pháp lý và hiệu lực của Hợp đồng thế chấp tài sản số 3876/2019/2923553/HĐTD ngày .

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đưa những người cùng sử dụng thửa đất số 32, tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhưng họ không đến tòa, không có văn bản thể hiện ý kiến nguyện vọng, như vậy các ông bà đã tự khước từ quyền và nghĩa vụ của mình kể cả quyền thỏa thuận với ông K1 bà C và Ngân hàng, trong việc quản lý sử dụng và xử lý tài sản thế chấp .

Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do Nguyên đơn, Bị đơn cung cấp và tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập, để giải quyết vụ án theo quy định tại các điều luật đã viện dẫn nêu trên, chấp nhận cho Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan chức năng phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số MERGEFIELD HDTD 3876/2019/2923553/HĐTD ngày để thu hồi nợ, bao gồm cả 03 căn nhà của bà K2, vợ chồng ông Đ bà V, bà C1, trong trường hợp vợ chồng ông K1 bà C không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ tín dụng. Đồng thời giành quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 32 đang thế chấp nếu bà K2, vợ chồng ông Đ bà V, bà C1 có nhu cầu.

[3] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn - Ngân hàng B được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí sơ thẩm Dân sự, Bị đơn ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C phải liên đới chịu án phí sơ thẩm Dân sự có giá ngạch theo quy định tại khoản 01 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 01 Điều 27 điểm d phần II Danh mục kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, cụ thể số tiền án phí phải nộp là :

Tổng cộng nợ tín dụng phải thanh toán: là 923.020.157 đồng tương ứng với số tiền án phí là : 36.000.000 + ( 123.020.157 đ x 3% ) = 39.690.604₫ .

Số tiền tạm ứng án phí là 22.680.000₫ do Ngân hàng B đã nộp theo biên lai tạm ứng án phí số 0018802 ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết sẽ được hoàn trả lại cho Ngân hàng B.

[4]Về chi phí tố tụng khác:

Quá trình tiến hành tố tụng Nguyên đơn đã tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp tổng cộng là 11.200.000 đ, và đã chi hết 4.600.000 trong quá trình tiến hành tố tụng, đã hoàn trả cho Nguyên đơn 6.600.000đ tiền tạm ứng chi phí thẩm định.

Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn - Ngân hàng B được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu chi phí này, mà Bị đơn phải chịu chi phí này theo quy định tại khoản 01 điều 157 Bộ luật tố tụng Dân sự; Do vậy cần tuyên buộc bị đơn phải hoàn trả số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ cho Nguyên đơn theo quy định tại khoản 01 điều 158 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào quy định tại khoản 03 điều 26, điểm a khoản 01 điều 35, điểm a khoản 01 điều 39 khoản 02 điều 227 và khoản 03 điều 228, khoản 01 điều 147, các điều 157, điều 158, Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 01, điểm a khoản 03 điều 167, điều 168, Điều 188 Luật đất đai năm 2013, khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010( sửa đổi bổ sung năm 2017); Khoản 02 điều 292, Điều 293, điều 295, điều 298, 299, 317, 319, 320, 321, 322, 323 điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 ; Điều 318, Khoản 02 Điều 325 Bộ luật dân sự khoản 02 điều 37, khoản 02 điều 27 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
    • - Án lệ số 11/2017/AL được công bố theo Quyết định số 2999/QĐ-CA ngày 28/12/2017 của Chánh án Tòa án Tối cao.
    • - Khoản 01 Điều 27 điểm d phần II Danh mục kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
    • Luật thi hành án dân sự.
  2. Tuyên xử :

    Chấp nhận tòan bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1:

    1. Về Hợp đồng tín dụng:
      1. Tuyên buộc ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C phải liên đới thanh toán trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 toàn bộ số nợ tín dụng gồm gốc và lãi chưa thanh toán, tính đến ngày xét xử giải quyết vụ án là ngày 28/11/2024, theo Hợp đồng tín dụng số MERGEFIELD HDTD 3877/2019/2923553/HĐTD ngày và Hợp đồng tín dụng số MERGEFIELD HDTD 1798/2020/2923553/HĐTD ngày văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng ngày 29/10/2020, tổng cộng là: 923.020.157 đồng (Bằng chữ: chín trăm hai mươi ba triệu không trăm hai mươi ngàn một trăm năm mươi bảy đồng). Trong đó: nợ gốc phải thanh toán: 903.500.000 đồng, nợ lãi trong hạn 19.309.985đ, số tiền lãi phạt quá hạn: 210.172 đồng.
      2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 29/11/2024 ), ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C vẫn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng; Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên phải thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay;
    2. Về xử lý tài sản thế chấp:
      1. Trường hợp ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C, không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng nêu trên, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền, xử lý khối tài sản thế chấp, để thu hồi nợ là:

        Toàn bộ quyền sử dụng đất + và tòan bộ tài sản trên đất (Bao gồm nhà và đất có diện tích 67,4 m² do ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C sử dụng, nhà và đất có diện tích 55m² bà Phan Hồ Bích K2 đang quản lý sử dụng, nhà và đất có diện tích 34m² do bà Phan Hồ Quốc V và ông Phan Tâm Đ đang quản lý sử dụng, nhà và đất có diện tích 24,1 m² bà Phan Hồ Diễm C1 đang quản lý sử dụng- Theo bản vẽ ngày 27/11/2024 của Công ty TNHH A1 kèm theo bản án), tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 44, diện tích 232,1 m², mục đích sử dụng đất ở đô thị, vị trí đất: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 382472 do UBND thành phố P cấp ngày 11/7/2017, đăng ký chủ sở hữu do nhận thừa kế cho ông Phan Hồ Quang K1 từ ngày 19/10/2019.

      2. Trường hợp bên nhận thế chấp và bên thế chấp thỏa thuận bán tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên thì ưu tiên quyền nhận chuyển nhượng nhà và đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 44, địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, cho các ông, bà : Phan Hồ Bích K2, Phan Hồ Quốc V, Phan Tâm Đ, Phan Hồ Diễm C1, nếu các ông bà có nhu cầu.
    3. Về án phí:

      -Bị đơn – Ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C phải chịu án phí sơ thẩm dân sự là 39.690.604₫ (Ba mươi chín triệu sáu trăm chín mươi ngàn sáu trăm lẻ bốn đồng).

      Hòan trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 Số tiền tạm ứng án phí là 22.680.000₫ đã nộp theo biên lai tạm ứng án phí số 0018802 ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết

    4. Về chi phí tố tụng khác :

      Tuyên buộc Bị đơn – Ông Phan Hồ Quang K1 và bà Nguyễn Thị Kim C phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo vẽ thửa đất là 4.600.000đ( Bốn triệu sáu trăm ngàn đồng);

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt nguyên đơn, bị đơn Phan Hồ Quang K1 vắng mặt bị đơn Nguyễn Thị Kim C và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Quyền kháng cáo bản án của nguyên đơn, bị đơn Phan Hồ Quang K1 là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Quyền kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị Kim C và Người có quyền lợi nghĩ vụ liên quan là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

ơi nhận:

  • -Tòa án Tỉnh;
  • - VKS Tp.Phan Thiết;
  • - Chi cục T;
  • - Đương sự;
  • -L.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Như Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/DS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 168/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện cu3aNguye6n đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger