|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ GHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1676/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25-6-2025 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Lợi;
- Ông Nguyễn Cửu Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy L – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 92/2025/HNST ngày 13 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4018/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5151/2025/HNGĐ ngày 29/5/2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Quỳnh N, sinh năm 1992;
Địa chỉ thường trú: 76 Đường số I, Khu V, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: 497 N, ấp H, xã H, Thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Ông Đặng Anh D, sinh năm 1990;
Địa chỉ thường trú và cư trú hiện nay: 76 Đường số I, Khu V, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà N có đơn xin vắng mặt, ông D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn là bà Phan Quỳnh N trình bày như sau: Bà N và ông D tự nguyện kết hôn năm 2022, có đăng ký kết hôn theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 35, đăng ký ngày 11/5/2016 tại UBND xã T, Thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống hòa hợp, hạnh phúc. Tuy nhiên khoảng năm 2023 giữa bà N và ông D bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn do không hòa hợp về lối sống và quan điểm sống dẫn đến cuộc sống chung không hòa hợp và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, cả hai không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Sau nhiều lần hai bên bàn luận và cố gắng để hàn gắn tình cảm nhưng không được, hiện cả hai đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Bà N đề nghị giải quyết cho bà và ông D được ly hôn.
- Về con chung: Giữa bà N và ông D có 02 con chung là Đặng Quỳnh Kim N1, sinh ngày 08/10/2017 và Đặng Phúc H, sinh ngày 02/8/2021. Bà Phan Quỳnh N đề nghị giải quyết cho bà N được nuôi 02 con chung Đặng Quỳnh Kim N1, sinh ngày 08/10/2017 và Đặng Phúc H, sinh ngày 02/8/2021. Bà Như K yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Đặng Anh D mặc dù đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt cũng như không có ý kiến, bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa: Bà Phan Quỳnh N có đơn xin vắng mặt nên không có lời trình bày tại phiên tòa. Bị đơn ông Đặng Anh D vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Quỳnh N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Phan Quỳnh N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đặng Anh D nên xác định là quan hệ tranh chấp về việc ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về tố tụng:
Bà Phan Quỳnh N là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của bị đơn, tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh tranh chấp của vợ chồng. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm sát việc tuân theo pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Phan Quỳnh N và ông Đặng Anh D tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Chứng nhận kết hôn số 35, đăng ký ngày 11/5/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, Thành phố C, tỉnh Đồng Tháp nên xác định hôn nhân của bà N và ông D là hợp pháp. Bà N trình bày, trong thời gian chung sống với ông D do có nhiều bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không quan tâm đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của bà N và ông D tại Ủy ban nhân dân phường H, theo Kết quả trả lời số 206/UBND ngày 26/2/2025 của Ủy ban nhân dân phường H với nội dung: “Bà Phan Quỳnh N và ông Đặng Anh D đã có mâu thuẫn từ sau khi sinh con thứ hai. Ông Đặng Anh D đi công trình, công việc ngày càng đi xuống, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh. Hiện tại bà Phan Quỳnh N và 02 con đã chuyển đăng ký thường trú về tỉnh Đồng Tháp và sinh sống tại đây”. Từ lời khai của bà N và kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân phường H cho thấy mối quan hệ hôn nhân của bà N và ông D đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, bà N và ông D đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không hàn gắn được do đó yêu cầu ly hôn của bà N là có cơ sở để chấp nhận.
Về con chung: Bà Phan Quỳnh N và ông Đặng Anh D có 02 con chung là Đặng Quỳnh Kim N1, sinh ngày 08/10/2017 và Đặng Phúc H, sinh ngày 02/8/2021. Bà N đề nghị được nuôi 02 con chung là Đặng Quỳnh Kim N1, sinh ngày 08/10/2017 và Đặng Phúc H, sinh ngày 02/8/2021 và không yêu cầu ông D cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy, hiện nay hai trẻ Đặng Quỳnh Kim N1, sinh ngày 08/10/2017 và Đặng Phúc H đang ở với mẹ, còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của mẹ, bà N có đủ điều kiện để nuôi con. Đồng thời tại bản tự khai của trẻ Đặng Quỳnh Kim N1 có mong muốn được ở với mẹ nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà N, giao trẻ Đặng Quỳnh Kim N1, sinh ngày 08/10/2017 và Đặng Phúc H, sinh ngày 02/8/2021 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục để ổn định cuộc sống cũng như tâm lý cho trẻ. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N tự khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Bà Như chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ông D không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 243, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Quỳnh N:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Quỳnh N được ly hôn với ông Đặng Anh D.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 35, đăng ký ngày 11/5/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, Thành phố C, tỉnh Đồng Tháp không còn giá trị pháp lý)
2. Về con chung: Bà Phan Quỳnh N và ông Đặng Anh D có 02 (hai) con chung là Đặng Quỳnh Kim N1, sinh ngày 08/10/2017 và Đặng Phúc H, sinh ngày 02/8/2021. Giao trẻ Đặng Quỳnh Kim N1, sinh ngày 08/10/2017 và Đặng Phúc H, sinh ngày 02/8/2021 cho bà Phan Quỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi trưởng thành. Không yêu cầu ông D cấp dưỡng tiền nuôi con.
Ông Đặng Anh D được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con, người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.
Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Quỳnh N tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Bà Phan Quỳnh N phải chịu án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0079209 ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí. Ông Đặng Anh D không phải chịu án phí.
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Bà Phan Quỳnh N và ông Đặng Anh D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thu Hà |
Bản án số 1676/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 1676/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Phan Quỳnh N yêu cầu ly hôn với ông Đặng Anh D
