|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 167/2024/HS-PT Ngày: 31/8/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Các Thẩm phán: Ông Trần Hữu Vinh
Ông Bùi Trọng Danh
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Lĩnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 158/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thủy N, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo:
NGUYỄN THỊ THỦY N, sinh ngày 22/8/1994 tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: H T, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Phiên dịch viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không xác định và bà Nguyễn Thị H (còn sống); Chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 06/01/2024, hiện đang bị tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Lê Văn H1 nhưng bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 05/01/2024, Lê Văn H1, Nguyễn Thị Thủy N và Dương Quốc L ngồi nhậu tại quán P trên đường H, quận S, thành phố Đà Nẵng. Tại đây, H1 mua của đối tượng tên “Ky” (không xác định nhân thân, lai lịch) 02(hai) gói ma túy loại Ketamine và 01(một) gói ma túy nước vui với giá 8.000.000 đồng với ý định sau khi nhậu xong sẽ sử dụng chung cùng với N và L (N và L không biết việc H1 mua ma túy). Sau đó, H1 cất ma túy trong người và tiếp tục ngồi nhậu đến khoảng 08 giờ ngày 06/01/2024, N rủ H1 và L về phòng của N tại căn hộ địa chỉ H T, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng để nghỉ ngơi thì H1 và L đồng ý. Khi đến nhà N thì L và N vào trước còn H1 đi G1 về nhà tại K đường B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng để lấy loa, đèn rồi quay lại phòng của N. Khi thấy H1 đem loa, đèn đến thì N biết sẽ tổ chức sử dụng ma túy và đồng ý cùng sử dụng tại căn hộ của mình. Tại phòng của N, H1 lấy 01(một) gói ma túy loại Ketamine đổ ra đĩa sứ, dùng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng (Mười ngàn đồng) của H1 quấn thành ống hút rồi dùng thẻ nhựa của H1 phân chia ma túy (số ma túy còn lại gồm 01(một) gói ma túy loại Ketamine và 01(một) gói ma túy nước vui H1 để trên bàn). Tiếp tục, H1 mở loa, đèn rồi rủ N, L cùng sử dụng ma túy. Đến 10 giờ cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an quận N, thành phố Đà Nẵng phát hiện bắt quả tang. Qua thử test cho kết quả H1, N và L đều dương tính với ma túy.
Tang vật thu giữ:
- * Tạm giữ tại phòng ngủ tầng 02 (hai) căn hộ tại địa chỉ số H T, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng:
- - 01(một) gói nilon chứa tỉnh thể rắn màu trắng; 01(một) gói nilon nhãn hiệu Baby Super Hero chứa chất rắn (niêm phong ký hiệu H1);
- - 01(một) đĩa sứ màu trắng; 01(một) thẻ nhựa màu xanh; 01(một) ống hút được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (Mười ngàn đồng), tất cả đều bám dính chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu TL1); 01(một) loa hiệu Harman Kardon màu đen; 01(một) đèn.
- - Tạm giữ của Lê Văn H1 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 màu đen gắn sim số 0905.777.996 và 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu vàng gắn sim số 0935.966.955;
- - Tạm giữ của Nguyễn Thị Thủy N 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu vàng gắn sim số 0935.956.345;
- - Tạm giữ của Dương Quốc L 01(một) gói nilông bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng (niêm phong ký hiệu L1) - L khai là muối phong thủy.
- * Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn H1 tại địa chỉ K đường B, phường H, quận C thu giữ: 01(một) đèn chiếu màu đen; 02(hai) gói nilông có chữ “CD” bên trong chứa chất bột (niêm phong ký hiệu VIII); 01(một) đĩa sứ màu trắng và 01 thẻ nhựa màu xanh đều có bám dính chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu VH2);
H1 khai nhận là ma túy H1 mua của một đối tượng tên Đ (không rõ nhân thân lai lịch) tại khu vực đường Đ, quận L, thành phố Đà Nẵng vào ngày 24/12/2023 với giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) nhằm mục đích sử dụng.
* Tại Kết luận giám định số 70/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố Đ và Kết quả giám định bổ sung tại Kết luận giám định số 239/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:
- Phân mẫu niêm phong ký hiệu H1 thành các mẫu gồm H1a: 01 gói nilon chứa tinh thể rắn màu trắng; H1b: 01 gói nilon nhãn hiệu Bay Super Hero;
Kết luận:
+ Tinh thể rắn màu trắng, chất bột màu trắng trong các mẫu niêm phong ký hiệu H1a; VH2; TL1 là ma túy loại Ketamine; khối lượng mẫu H1a: 1,327gam; VH2: 0,158gam; TL1: Là mẫu bám dính nên không xác định được khối lượng:
+ Chất bột trong mẫu niêm phong ký hiệu VH1 là ma túy loại MDMA, Ketamine; khối lượng mẫu VH1: 6,136gam. Trong đó hàm lượng MDMA là 0,9%; Ketamine là 5,8%.
+ Chất bột màu vàng trong mẫu niêm phong ký hiệu H1b là ma túy loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam, khối lượng mẫu H1b: 4,595gam. Trong đó hàm lượng Methamphetamine là 0,3%; MDMA là 24,6%; Nimetazepam là 0,2%.
+ Khối lượng mẫu L1 là 9,480gam không tìm thấy chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thủy N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thủy N 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt, ngày 06/01/2024.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Lê Văn H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (nhưng bị cáo này không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị); phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 02/7/2024, bị cáo Nguyễn Thị Thủy N có đơn kháng cáo với nội dung: Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là quá nặng, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Thị Thủy N giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và trong thời hạn luật định nên đảm bảo hợp lệ.
Về nội dung: Xét Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thủy N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng như áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Qua đó xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thủy N mức hình phạt 07 (bảy) năm tù là phù hợp, không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, tuy bị cáo có bổ sung tình tiết mới có người thân trong gia đình bà Trần Thị Q (bà ngoại) được tặng thưởng “Huy chương kháng chiến hạng nhất”, đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm, tuy nhiên, các tình tiết này cũng không làm thay đổi về mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo. Do đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Thủy N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
[1.1] Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào tối ngày 05/01/2024 trong lúc ngồi nhậu cùng với Nguyễn Thị Thủy N và Dương Quốc L, Lê Văn H1 đã âm thầm mua ma túy của một đối tượng tên K tại đường H, quận S, thành phố Đà Nẵng. Sau khi nhậu xong, cả ba rủ nhau về căn hộ N đang ở tại H T, phường K, quận N để nghỉ ngơi. Lúc này H1 bắt xe về nhà lấy loa đèn sau đó quay lại căn hộ của N, khi thấy H1 đem loa, đèn đến thì N biết sẽ tổ chức sử dụng ma túy nhưng đồng ý và cùng tham gia. Tại đây, H1 lấy 01(một) gói ma túy loại Ketamine đổ ra đĩa sứ rồi dùng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng (Mười ngàn đồng) của H1 quấn thành ống hút, tiếp đến dùng thẻ nhựa của H1 phân chia ma túy. Sau đó H1 mở loa, đèn rồi rủ N, L cùng sử dụng ma túy. Đến 10 giờ cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an quận N, thành phố Đà Nẵng phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra Lê Văn H1 còn cất giấu 0,5138gam Ketamine và 0,0552gam MDMA tại nhà riêng ở K B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, mục đích để sử dụng.
Do đó, bị cáo thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2024/HS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xử phạt bị cáo Lê Văn H1 và Nguyễn Thị Thủy N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo N cho rằng trong vụ án này bị cáo chỉ tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, đồng ý để cho H1 mang ma túy đến nhà (thuộc sở của mẹ ruột bị cáo nhưng giao cho bị cáo ở quản lý) sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, hiện tại hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo phạm tội lần đầu, xin Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét khoan hồng giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo có ít thời gian học tập, cải tạo tốt, sớm được về với gia đình, làm ăn lương thiện.
[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Thủy N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác là hành vi sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc, nhưng để thỏa mãn nhu cầu cùng người khác sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật, để cho Lê Văn H1 thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho đối lượng L và bản thân bị cáo. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù có thời hạn và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung là cần thiết.
[2.2] Xét trong vụ án này bị cáo và đối tượng Dương Quốc L không hề hay biết việc bị cáo H1 mua ma túy để sử dụng, việc bị cáo rủ H1 và L về nhà (thuộc sở hữu của mẹ bị cáo nhưng giao cho bị cáo ở quản lý) là nhằm mục đích nghỉ ngơi sau khi cả ba có sử dụng bia rượu tại quán, chứ không phải về nhà do bị cáo quản lý để sử dụng ma túy, tuy nhiên, khi H1 bắt xe về nhà lấy loa, đèn và sau đó quay lại nhà của bị cáo có mang theo loa, đèn, bị cáo mới biết Hòa sẻ sử dụng ma túy, nhưng vì là bạn bè thân quen, nên bị cáo mặc nhiên đồng ý tham gia để H1 tổ chức sử dụng ma túy cho cả ba. Như vậy, xét chuỗi hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đều do H1 chủ động trước, từ việc mua ma túy, chuẩn bị công cụ loa, đèn, đổ ma túy ra đĩa sứ, dùng tờ tiền 10.000 đồng (mười ngàn đồng) quấn làm ống hút, sử dụng thẻ nhựa phân chia ma túy, mở loa, đèn rồi rủ bị cáo N cùng với L sử dụng ma túy, điều đó cho thấy trong vụ án này bị cáo chỉ tham gia với vai trò đồng phạm thứ yếu giúp sức dưới hình thức đồng ý cho H1 sử dụng nhà ở (do bị cáo đang quản lý) làm địa điểm để H1 tổ chức cho cả ba cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt chưa xem xét một cách khách quan toàn diện về diễn biến của chuỗi hành vi trong vai trò đồng phạm, cũng như về nhân thân của bị cáo, qua đó xử phạt bị cáo 07 (bảy) năm tù là có cơ sở, tuy nhiên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp đồng phạm với vai trò thứ yếu không đáng kể, mặt khác tại giai đoạn cấp phúc thẩm bị cáo có bổ sung tình tiết mới có ông bà ngoại ruột (Nguyễn Văn G, Trần Thị Q) có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng nhì, mẹ ruột bị cáo là mẹ đơn thân có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đồng thời bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm (khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật), đây là các tình tiết mới tại cấp phúc thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Thị Thủy N một phần hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Đối với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) do mẹ bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án về án phí.
[5] Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thủy N, sửa bản án sơ thẩm.
-
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thủy N: 05 (năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 06/01/2024.
-
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) do bà Nguyễn Thị H (mẹ của bị cáo Nguyễn Thị Thủy N) nộp theo Biên lai thu tiền số 1921 ngày 20/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng để đảm bảo thi hành án về án phí.
-
IV. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Nguyễn Thị Thủy N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
-
V. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
VI. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký và đóng dấu Phan Vĩnh Chuyển |
Bản án số 167/2024/HS-PT ngày 31/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 167/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào tối ngày 05/01/2024 trong lúc ngồi nhậu cùng với Nguyễn Thị Thủy N và Dương Quốc L, Lê Văn H1 đã âm thầm mua ma túy của một đối tượng tên K tại đường H, quận S, thành phố Đà Nẵng. Sau khi nhậu xong, cả ba rủ nhau về căn hộ N đang ở tại H T, phường K, quận N để nghỉ ngơi. Lúc này H1 bắt xe về nhà lấy loa đèn sau đó quay lại căn hộ của N, khi thấy H1 đem loa, đèn đến thì N biết sẽ tổ chức sử dụng ma túy nhưng đồng ý và cùng tham gia. Tại đây, H1 lấy 01(một) gói ma túy loại Ketamine đổ ra đĩa sứ rồi dùng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng (Mười ngàn đồng) của H1 quấn thành ống hút, tiếp đến dùng thẻ nhựa của H1 phân chia ma túy. Sau đó H1 mở loa, đèn rồi rủ N, L cùng sử dụng ma túy. Đến 10 giờ cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an quận N, thành phố Đà Nẵng phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra Lê Văn H1 còn cất giấu 0,5138gam Ketamine và 0,0552gam MDMA tại nhà riêng ở K B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, mục đích để sử dụng.
