Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30-8-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Lương

Bà Nguyễn Thị Lý

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 142/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 122/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị T, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn 2, xã L, huyện TN, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh N, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn 4, xã L, huyện TN, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 02 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị T trình bày:

Chị kết hôn với anh N trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện TN, thành phố Hải Phòng vào ngày 08 tháng 3 năm 2023. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại thôn 4, xã L, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Quá trình vợ chồng chung sống hoà thuận đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm sống và do anh N không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh N đã được gia đình hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng chị T và anh N đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2024 đến nay. Nay chị T khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh N không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Bsinh ngày 01 tháng 11 năm 2023. Hiện nay anh N đang trực tiếp nuôi con. Khi ly hôn chị T yêu cầu Toà án giải quyết giao con chung tên Bsinh ngày 01 tháng 11 năm 2023 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng không tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn là anh N vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời khai tại bản tự khai ngày 28 tháng 8 năm 2024 trình bày:

Anh N kết hôn với chị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn 4, xã L. Quá trình vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hoà hợp. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành. Chị T đã về nhà bố mẹ đẻ ở thôn 3, xã L sống từ tháng 01 năm 2024 đến nay. Nay chị T xin ly hôn, anh N đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng anh được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Bsinh ngày 01 tháng 11 năm 2023. Hiện nay anh N đang trực tiếp nuôi con. Khi ly hôn anh N yêu cầu Toà án giải quyết giao con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh N không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn là chị T đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh N chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị T. Về hôn nhân: Cho chị T được ly hôn anh N. Về con chung: Giao con chung tên Bsinh ngày 01 tháng 11 năm 2023 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là chị T và bị đơn là anh N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là chị T và bị đơn là anh N.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện TN, thành phố Hải Phòng vào ngày 08 tháng 3 năm 2023 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chị T và anh N chung sống với nhau tại thôn 4, xã L, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Quá trình vợ chồng chị T và anh N chung sống hòa thuận hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chị T trình bày do tính tình vợ chồng không hoà hợp và do anh N không quan tâm đến gia đình, chị T khẳng định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N. Anh N thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn do không hoà hợp và đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng anh được ly hôn. Tài liệu xác minh có trong hồ sơ vụ án thể hiện quá trình vợ chồng chị T và anh N chung sống hòa thuận hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm sống và do anh N không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh N đã được gia đình hoà giải nhiều nhưng không có kết quả. Vợ chồng chị T và anh N đã sống ly thân nhau từ tháng 01 năm 2024 đến nay. Như vậy thể hiện hôn nhân giữa chị T và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T về việc xin ly hôn anh N, cho chị T được ly hôn anh N.

[3] Về con chung: Chị T và anh N có 01 con chung tên B sinh ngày 01 tháng 11 năm 2023. Khi ly hôn chị T và anh N yêu cầu Toà án giải quyết giao con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao con chung tên Bsinh ngày 01 tháng 11 năm 2023 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh N không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị T và anh N trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Cho chị T được ly hôn anh N.
  2. Về con chung: Giao con chung tên B sinh ngày 01 tháng 11 năm 2023 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh N không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

  1. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009893 ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện TN;
  • - Chi cục THADS huyện TN;
  • - UBND xã L, huyện TN, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 167/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger