Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

*****

Bản án số: 167/2023/HS-ST

Ngày: 27/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Đăng Khoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hạnh

Ông Phạm Tiến Lợi

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/2023/QĐST-HS ngày 15/12/2023 đối với các bị cáo:

01. Nguyễn Thế C, sinh năm 1998; Nơi cư trú: thôn Đ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế N, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1963; vợ, con: Chưa có

D chỉ bản số 227 lập ngày 08/4/2023 tại Công an huyện C.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giam từ ngày 07/4/2023 đến ngày 16/8/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo hiện tại ngoại, Có mặt tại phiên tòa.

02. Đặng Đình B, sinh ngày 15/02/2004; Nơi cư trú: thôn E, xã Q, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đình B1, sinh năm 1981 (đã chết) và bà Ngô Thị L, sinh năm 1982; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 26/4/2023 TAND huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản“ và 05 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật“. Buộc chấp hành chung cho 02 tội là 14 tháng tù. Ngày đã nộp án phí ngày 26/4/2023.

(Do khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên không tính án tích theo quy định tại Điều 107 BLHS)

Bị bắt tạm giam từ ngày 05/4/2023 đến ngày 16/6/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Ngày 16/6/2023, bắt giam chấp hành Bản án số 29/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 của TAND huyện Mỹ Đức theo Quyết định thi hành án số 33/2023/QĐ- CA ngày 16/6/2023 của TAND huyện Chương Mỹ. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T3 – Bộ C3.

D chỉ bản số 226 lập ngày 06/4/2023 tại Công an huyện C.

Bị cáo vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

03. Trần Hoàng D1, sinh ngày 01/11/2004; Nơi cư trú: thôn E, xã Q, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Viết T, sinh năm 1979 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1981; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 30/6/2023, TAND huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 21 tháng tù về tội "Gây rối trật tự công cộng", thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2023. Đã nộp án phí ngày 07/7/2023. Hiện bị cáo đang chấp hành án theo Quyết định thi hành án số 74/2023/QĐ-CA ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ tại Trại giam T4- Bộ C3.

D chỉ bản số 285 lập ngày 08/4/2023 tại Công an huyện C.

Có mặt tại phiên tòa.

04. Vũ Thị L1, sinh năm 1998; Nơi đăng ký HKTT: Thôn A, xã A, huyện H, Thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Thôn K, xã P, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Vũ Văn C1, sinh năm 1973 (đã chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1973; chồng: Hoàng Văn T1, sinh năm 1994 (đã ly hôn); Con có 02 con lớn, sinh năm 2014; nhỏ, sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không

D chỉ bản số 224 lập ngày 08/4/2022 tại Công an huyện C.

Tạm giữ, tạm giam: Không.

Bị cáo hiện tại ngoại, Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Nguyễn Viết T2, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện C, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

  1. Anh Đào Văn H1, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện C, TP .; Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn B2, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện C, TP .;Vắng mặt.
  4. Anh Nguyễn Phú D2, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  5. Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  6. Anh Đặng Đình K, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Xóm Thượng, thôn Đ, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội;Vắng mặt.
  7. Anh Bùi Hoàng Minh H2, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/11/2022 tại quán “ốc quán 1993" do anh Nguyễn Viết T2 (Sinh năm: 1993; Trú tại: Thôn A, xã Q, C, Hà Nội) làm chủ quán, có 02 nhóm thanh niên ngồi ăn uống tại quán, gồm:

B: Ngồi phía trong nhà gồm: Nguyễn Thế C (Sinh năm: 1998), Nguyễn Văn G (Sinh năm: 1988) cả hai đều trú tại xã L, C, Hà Nội); Nguyễn Quang C2 (Sinh năm: 1992), Nguyễn Quang D3 (Sinh năm: 1990), Nguyễn Phú D2 (Sinh năm: 1990) cả ba đều trú tại xã H, C, Hà Nội; Vũ Thị L1 (Sinh năm: 1998; Trú tại: P, M, Hà Nội); Nguyễn Ngọc Á (Sinh năm 1994; Trú tại: L, Đ, Bắc Từ L2) và Đỗ Văn B3 (Sinh năm 1996; Trú tại: C, T, Hà Nội).

Bàn số 2: Ngồi ở vỉa hè, sát lề đường gồm: Nguyễn Văn Q (Sinh năm: 2000), Nguyễn Văn B2 (Sinh năm: 2001); Đào Văn H1 (Sinh năm: 1998) cả ba đều trú tại xã H, C, Hà Nội.

Trong khi hai nhóm đang ngồi uống rượu Nguyễn Văn B2 đi vào buồng vệ sinh ở trong quán, khi quay ra cửa, B2 nhìn thấy Nguyễn Phú D2 là người quen đang ngồi uống rượu ốc ở bàn số 1, nên B2 hỏi D2 “Anh à, anh vào đây uống rượu à” rồi về bàn số 2 ngồi tiếp tục uống rượu ốc với Q và H1.

Nguyễn Thế C ngồi cùng với D2 nhìn thấy và cho rằng Bằng nhìn đểu mình, nên C gọi điện thoại cho Đặng Đình B (Sinh ngày 15/02/2005 – 17 tuổi, 09 tháng 01 ngày; Trú tại: Thôn E, Q, C Mỹ) đến quán để đánh nhau. Khoảng 10 phút sau, B đi cùng với Trần Hoàng D1 (Sinh năm: 2004; Trú tại: Thôn E, Q, Chương M) đến quán, D1 đứng ở vỉa hè chờ, còn B đi vào trong nhà gặp và hỏi C: “Đánh nhau với ai”, nhưng C không nói gì, mà đứng dậy cầm 03 chiếc chén thủy tinh uống rượu ở bàn đi ra gặp D1 đứng chờ ở gần bàn số 2 có B2 đang ngồi ăn ốc ở ngoài vỉa hè đường TL 419. C nói với B và D1 “Đánh ba thằng kia”; Đồng thời, C ném 03 chiếc chén thủy tinh về phía Bằng, thấy bị

ném chén thủy tinh, B2, H1 và Q không nói gì mà đứng dậy, thì bị C lao vào dùng chân tay đấm vào người B2. Thấy C đánh B2, thì D1 cầm ghế nhựa giơ lên vụt trúng gò má B2, còn B cầm ghế nhựa ném vào mặt Bằng. Thấy B2 bị đánh, nên Q và H1 chống đỡ lại cho B2 giải thoát, Q nhặt gậy nhôm phế liệu ở dưới đất vụt 01 phát trúng vào mặt của C làm C bị ngã xuống đất, 01 phát trúng mặt của D1, còn H1 xông vào đấm đá để ngăn cản C đánh B2, do bị C đánh, B2 cầm ghế nhựa chống đỡ lại và ném về phía C. Nhìn thấy nhóm C đánh B2, sau đó lại bị B2 đánh lại, nên L1 cầm ghế nhựa trong quán đi ra giơ lên đánh 01 phát trúng mặt của B2.

Do bị C, D1, B và L1 xông vào đánh, B2 và Q, H1 vừa chống đỡ, vừa bỏ chạy ra phía đường TL419, nhưng vẫn bị nhóm của C nhặt ghế nhựa đuổi theo tấn công, ném về nhóm B2. Khi B2, Q và H1 bỏ chạy về hướng TT C, rồi rẽ vào xóm, chạy vào nhà dân để trốn. thì C, D1, B đuổi theo nhưng không đuổi được. Biết là nhóm B2, Q, H1 chạy trốn vào nhà dân, C bảo với D1 “về xách đồ ra đây”, D1 và B đi về nhà D1 để lấy 01 tuýp sắt đầu gắn dao (phóng lợn) dài khoảng 1,5m quay lại đến ngõ rẽ nơi nhóm B2 bỏ chạy, thì gặp C đi từ trong ngõ đi ra. Cùng lúc này, có Đặng Đình K (Sinh năm 2002) điều khiển xe máy chở Bùi Hoàng Minh H2 (Sinh năm 2002) cả 2 đều trú tại Đ, H, Chương M1, đi chơi về đến gần quán ốc 1993, gặp C đang đi cùng D1 và B. Khi nghe C nói bị đánh, H2 nhảy xuống xe đi bộ cùng với C, còn K điều khiển xe máy đến trước cửa quán ốc 1993, thì gặp Vũ Thị L1, qua nói chuyện biết việc C bị đánh, lúc này nhìn thấy H2 chạy vào vỉa hè nhặt gạch nung mang ra đường TL419 đập vỡ nhặt gạch nhỏ, để lên xe máy, nhưng K bảo H2 vứt gạch đi, rồi đi bộ vào lề đường đứng thì gặp anh Tạ Viết Đ (Sinh năm: 1978, ở Thôn A, Q, C Mỹ) đến. Anh Đ bảo K đi về, nhưng K và H2 không về mà đến đứng chơi với C và L1. Lúc này, B và D1 đi về nhà D1 lấy được phóng lợn cầm ra quán ốc 1993. Sau đó B điều khiển xe máy đi vào trong ngõ thì phát hiện nhóm B2 ở trong nhà dân và đóng cửa, nên B và D1 cầm theo phóng lợn đi về. Lúc này, C đứng ở cửa quán ốc rủ K, H2, L1 đi uống nước, K bảo lên quán “Hoàng Săm” của Lương Viết H3 (Sinh năm 1998, trú tại Đ, H, Chương M1) để uống nước, rồi cả K, H2, C và L1 đến quán nước của H3 ngồi uống nước. Khi ngồi uống nước, C gọi điện thoại cho D1 và B đến, khi D1 và B đến thì C bảo: “Hai thằng bỏ trốn đi một thời gian”, D1 và B điều khiển xe máy đi về, còn C vào quán ngồi uống nước và kể cho K, H2, H3 nghe việc đánh nhau ở quán ốc 1993, rồi C và L1 đi về trước, còn H2 và K ngồi chơi ở quán.

Sau khi chạy thoát ra khỏi quán ốc 1993, nhóm của B2 chạy trốn vào nhà dân đóng cửa chờ lực lượng Công an xuống hiện trường làm việc, khi thấy không bị đuổi đánh nữa, nhóm của B2 đi ra quán ốc 1993 lấy xe máy đi về.

Cơ quan điều tra Công an huyện C nhận tin báo vụ việc, đã tổ chức đến hiện trường giải quyết và tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ việc. Kết quả khám nghiệm hiện trường như sau:

Hiện trường được xác định là quán “Ốc quán 1993” do anh Nguyễn Viết T2 làm chủ giáp đường TL 419. Được xác định các vị trí hiện trường như sau: Vị trí số 1 là vị trí nhóm của C ngồi; Vị trí số 2 là vị trí nhóm của B2 ngồi; Vị trí số 3 trước cửa quán “Ốc quán 1993" cách vỉa hè 2,5 mét xác định là vị trí các đối tượng đánh nhau; Vị trí số 4 được xác định trước cửa quán “Ốc quán 1993” tiếp giáp đường TL149 nơi các đối tượng sử dụng hung khí đuổi đánh nhau trên đường T kéo dài đến trước cửa quán “Kuma Caffee” và bỏ chạy về hướng TT C.

* Vật chứng vụ án: Sau khi khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu giữ vật chứng sau:

  • Chất màu nâu đỏ (nghi là máu) thu bằng tăm bông, các mảnh nhựa vỡ màu xanh thu tại vị trí số 3.
  • Mảnh thủy tinh vỡ thu tại vỉa hè trước quán "Kuma Caffee".
  • 01 áo vải màu đen, lưng áo may vải trắng in họa tiết nhiều màu tại vị trí tây nam nhà anh T2.
  • 01 dao phóng lợn gắn tuýp sắt, dài khoảng 1,5m; Trần Hoàng D1 khai giấu ở bụi cây; Cơ quan CSĐT đã truy tìm nhưng không phát hiện, thu giữ được.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với Nguyễn Thế C; Đặng Đình B; Trần Hoàng D1; Nguyễn Văn Q; Nguyễn Văn B2; Đào Văn H1; Vũ Thị L1, trong khi đánh nhau, gây rối, bị thương tích nhẹ, không đi khám và không phải điều trị ở cơ sở y tế nào, nên không có căn cứ trưng cầu giám định thương tích. Các bên đã tự nguyện hòa giải, đồng thời không yêu cầu bồi thường gì.

- Đối với anh Nguyễn Viết T2 là chủ quán “Ốc quán 1993” cho biết: Khi xảy ra sự việc, quán ốc bị thiệt hại gãy ghế nhựa, bàn nhựa, vỡ chén. Tuy nhiên thiệt hại không đáng kể và không có yêu cầu đề nghị gì.

Các bị cáo Nguyễn Thế C, Đặng Đình B, Trần Hoàng D1 và Vũ Thị L1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 125/CT-VKS-CM ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Thế C – Trần Hoàng D1 – Đặng Đình B – Vũ Thị L1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điểm b Khoản 2 Điều 318 BLHS 2015.

Tại phiên tòa,

+ Các bị cáo: Nguyễn Thế C – Trần Hoàng D1 –Vũ Thị L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã quy kết và đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Đặng Đình B có đơn xin xét xử vắng mặt do đang chấp hành án tại Trại Giam T3 – Bộ C3. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bà Ngô Thị L mẹ bị cáo Đặng Đình B xuất trình đơn đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và Giấy chứng nhận Liệt sĩ đối với ông Đặng Đình M2.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo: Nguyễn Thế C – Trần Hoàng D1 – Đặng Đình B – Vũ Thị L1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2.1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 BLHS phạt: Nguyễn Thế C từ 30 đến 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 5 năm.

2.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Đặng Đình B từ 24 đến 27 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 14 (mười bốn) tháng tù của Bản án Hình sự sơ thẩm số 29/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Buộc Đặng Đình B phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là từ 38 đến 41 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2023 được trừ thời gian tạm giam từ ngày ngày 05/4/2023 đến ngày 16/6/2023.

2.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Trần Hoàng D1 từ 30 đến 36 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 21 (hai mươi mốt) tháng tù của Bản án Hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. Buộc Trần Hoàng D1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là từ 51 đến 57 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2023.

2.4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Vũ Thị L1 24 đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 đến 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Về sự vắng mặt của bị cáo Đặng Đình B: Bị cáo Đặng Đình B đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa. Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt. Quá trình điều tra, bị cáo đã có đầy đủ lời khai, thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng quy kết. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290, Hội đồng xét xử vắng mặt bị cáo Đặng Đình B.

[1.3]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng khác: Bị hại và những người làm chứng đã có được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình điều tra, họ đã có đầy đủ lời khai, bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, tang vật thu giữ, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 21 giờ 30 phút tối ngày 16/11/2022, tại Quán Ố thuộc thôn A, xã Q, huyện C, Thành phố Hà Nội, trong khi ngồi uống rượu ốc, Nguyễn Thế C cho rằng Nguyễn Văn B2 đi qua nhìn đểu mình, C đã gọi điện thoại rủ Đặng Đình B và Trần Hoàng D1 đến để đánh nhau. Khi B và D1 đến thì C cầm 03 chiếc chén thủy tinh uống rượu đi ra bàn số 2 có Nguyễn Văn B2, Nguyễn Văn Q và Đào Văn H1 đang ngồi ăn ốc trên vỉa hè đường TL 419 trước cửa quán ốc 1993, ném về phía Bằng gây mất trật tự. Sau đó, C, B, D1 và Vũ Thị L1 cùng lao vào dùng bàn ghế nhựa đánh B2, H1, Q. Bị đánh B2, H1 và Q chống đỡ lại và bỏ chạy trốn vào nhà dân ở trong ngõ của thôn A, xã Q, C, B và D1 đuổi theo. Không đuổi được, thì B và D1 về nhà D1 lấy 01 dao phóng lợn dài khoảng 1,5m ra tìm để tiếp tục đuổi đánh nhóm của B2, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Thế C – Trần Hoàng D1 – Đặng Đình B đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” thuộc trường hợp “Dùng hung khí” là tình tiết định khung theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Vũ Thị L1 cũng sử dụng ghế nhựa để đánh B2 cùng với nhóm của C nên đồng phạm với hành vi của C, D1, B.

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố: Các bị cáo: Nguyễn Thế C – Trần Hoàng D1 – Đặng Đình B – Vũ Thị L1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về vai trò của từng bị cáo: Vụ án có tính đồng phạm giản đơn do không có bàn bạc, phân công nhau từ trước, việc phạm tội mang tính bộc phát. Xét vai trò và hành vi của từng bị cáo thì thấy:

Nguyễn Thế C là người khởi xướng dẫn đến vụ xô xát giữa hai nhóm (nhóm của C và nhóm B2, Q, H1) nên C có vai trò chính trong vụ án. Chỉ vì cho rằng B2 nhìn đểu mình nên đã gọi điện cho Đặng Đình B đến quán ốc nơi C và nhóm B2 đang ngồi ăn ốc để đánh nhau. Sau khi B chở D1 đến quán, C đã cầm 03 cốc thủy tinh uống rượu đến bàn của B2 đang ngồi cùng với H1 và Q. Sau đó C nói với D1 “đánh 3 thằng kia” tức là B2, H1 và Q rồi ném cốc vào Bằng. Sau khi hai nhóm xảy ra xô xát, C cùng B, D1 cầm ghế nhựa đuổi đanh và ném ghế về phía của B2, H1, Q. Sau khi nhóm Bằng chạy trên đường TL419 hướng thị trấn C và rẽ vào xóm, chạy vào nhà dân để trốn thì C hô B và D1 về nhà “lấy đồ”. D1 và B đi về nhà D1 để lấy 01 tuýp sắt đầu gắn dao (phóng lợn) dài khoảng 1,5m quay lại đến ngõ rẽ nơi nhóm B2 bỏ chạy, thì gặp C đi từ trong ngõ đi ra. Sau đó B điều khiển xe máy đi vào trong ngõ thì phát hiện nhóm B2 ở trong nhà dân và đóng cửa, nên B và D1 cầm theo phóng lợn đi về. Như vậy, C là người khởi xướng trong vụ án, chỉ vì mẫu thuẫn nhỏ do C hiểu lầm mà xúi giục dẫn đến xô xát giữa nhóm của C và nhóm B2 nên cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật.

Đặng Đình B: Khi được C gọi điện đến để đánh nhau với nhóm của B2, giữa B và nhóm của B2 không có mâu thuẫn gì. Bảy không can ngăn C mà còn rủ D1 cùng đến với C để đánh nhau với nhóm của B2. Sau khi đuổi đánh nhóm của B2 chạy vào nhà dân trốn, B cùng với D1 về nhà D1 lấy 01 tuýp sắt đầu gắn dao (phóng lợn) dài khoảng 1,5m quay lại đến ngõ rẽ nơi nhóm B2 bỏ chạy. Sau khi gặp C đi từ ngõ nơi nhóm B2 bỏ chạy, B và D1 vẫn tiếp tục đi xe máy vào ngõ để tìm nhóm B2 nhưng nhóm này đã đi vào nhà dân và đóng cửa nên mới đi về. Hành vi của B thể hiện ý thức coi thường pháp luật, hung hăng. Nhân thân của B xấu. Ngày 26/4/2023, TAND huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội tại Bản án số 29/2023/HS-ST) xử phạt 09 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản“ và 05 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật“. Buộc chấp hành chung cho 02 tội là 14 tháng tù. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam T3 – Bộ C3. Do vậy, cần có hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và có thời gian cách ly bị cáo ra khỏi xã hội đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người biết tuân thủ pháp luật.

Tuy nhiên thời điểm phạm tội, bị cáo chưa thành niên (17 tuổi 9 tháng 1 ngày), nên cần áp dụng Điều 91 quy định về “Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” và Điều 101 quy định về “Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người chưa thành niên.

Trần Hoàng D1: Trần Hoàng D1 được Đặng Đình B rủ đi cùng khi C gọi cho B. Sau khi đến nơi, C bảo đánh B2, H1, và Q. Khi thấy C ném cốc và lao vào đánh B2 thì D1 cũng cầm ghế nhựa vụt vào B. Sau khi hai bên xảy ra xô xát, nhóm B2 bỏ chạy thì B và D1 về nhà D1 cầm lấy 01 tuýp sắt đầu gắn dao (phóng lợn) dài khoảng 1,5m quay lại đến ngõ rẽ nơi nhóm B2 bỏ chạy. Khi vào ngõ, biết nhóm của B2 đã chạy vào nhà dân đóng cửa nên mới đi về cùng B. Ngày 30/6/2023, TAND huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 21 tháng tù về tội "Gây rối trật tự công cộng" tại Bản án số 61/2023/HS-ST. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam T4 – C10, Bộ C3. Điều đó chứng tỏ ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, cần có hình phạt nghiêm và có thời gian cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo để bị cáo trở thành người công dân tốt.

Vũ Thị L1: Vũ Thị L1 ngồi cùng bàn với Nguyễn Thế C. Khi C đánh B2 và bị B2 đáng lại thì L1 dùng ghế nhựa vụt trúng vào mặt Bằng. Hành vi của L1 là bộc phát nhưng đồng phạm với nhóm của C. Mặc dù bị cáo có vai trò hạn chế trong nhóm nhưng cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt.

[2.4] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[2.5] Về tình tiết giảm nhẹ:

+ Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Đối với bị cáo Đặng Đình B, bị cáo có ông là liệt sỹ, ngày 12/12/2022, bị cáo đã tự nguyện ra Công an huyện C đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Nguyễn Thế C có ông ngoại được tặng H1, huy chương nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

+ Bị cáo Vũ Thị L1 xuất trình phiếu siêu âm và xác nhận là đang mang thai được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét các bị cáo Nguyễn Thế C, Vũ Thị L1 phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, đều có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục các bị cáo trở thành người tốt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[2.5] Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với Nguyễn Thế C; Đặng Đình B; Trần Hoàng D1; Nguyễn Văn Q; Nguyễn Văn B2; Đào Văn H1; Vũ Thị L1, trong khi đánh nhau, gây rối, bị thương tích nhẹ, không đi khám và không phải điều trị ở cơ sở y tế nào, nên không có căn cứ trưng cầu giám định thương tích. Các bên đã tự nguyện hòa giải, đồng thời không yêu cầu bồi thường gì.

- Đối với anh Nguyễn Viết T2 là chủ quán “Ốc quán 1993” cho biết: Khi xảy ra sự việc, quán ốc bị thiệt hại gãy ghế nhựa, bàn nhựa, vỡ chén. Tuy nhiên thiệt hại không đáng kể và không có yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét.

Tại phiên tòa, những người trên cũng không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với: Nguyễn Văn B2, Nguyễn Văn Q, Đào Văn H1 là khách ngồi ăn ốc bàn ngoài vỉa hẻ của quán ốc 1993, trong khi ngồi ăn ốc, không nảy sinh mâu thuẫn, không cãi nhau với nhóm của C, cũng không chửi nhóm C, nhưng lại bị C cho là nhìn đểu, nên C đã gọi B và D1 đến để đánh nhau. Khi B đến, C không nói gì mà dùng chén thủy tinh ném vào nhóm B2, Q, H1. Khi bị C ném chén thủy tinh, B2, Q, H1 không chống trả ngay, mà chỉ đứng dậy thì bị C và B lao vào dùng chân tay, đấm đá luôn. Lúc này, B2, Q, H1 mới chống trả việc bị đánh là cần thiết, với mục đích để chạy thoát khỏi sự tấn công. Nên hành vi của Nguyễn Văn B2, Nguyễn Văn Q, Đào Văn H1 không phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. CQĐT không đề cập xử lý là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với: Đặng Đình K và Bùi Hoàng Minh H2 đi chơi về đến gần quán ốc 1993 thì gặp C đang đi từ trong ngõ đi ra sau khi không đuổi theo được nhóm B2, Q, H1 do đã trốn vào nhà dân; D1 và B đi về nhà D1 lấy dao “phóng lợn”, C không đuổi kịp nên đi ra đường thì gặp H2 và K, không còn đuổi đánh nhau nữa. H2 đi bộ cùng với C về cửa quán ốc 1993, biết C mới bị đánh ở quán nên H2 nhặt gạch ở vỉa hè đập vỡ, nhưng K và H2 đều chưa tham gia đánh nhau gây rối trật tự công cộng. Hành vi của H2 và K không đồng phạm phạm tội. CQĐT không đề cập xử lý là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về xử lý vật chứng:

Về truy tìm vật chứng:

  • 01 dao phóng lợn gắn tuýp sắt, dài khoảng 1,5m; Trần Hoàng D1 khai giấu ở bụi cây; Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã truy tìm nhưng không thu giữ được. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C không đề cập xử lý là có căn cứ.

Tịch thu tiêu hủy:

  • Chất màu nâu đỏ (nghi là máu) thu bằng tăm bông (02 tăm bông);
  • Các mảnh nhựa màu xanh thu tại vị trí số 3 (03 mạnh nhựa);
  • Mảnh thủy tinh vỡ thu tại vỉa hè trước quán “Kuma Caffê” (01 mảnh);
  • 01 (một) áo vải bò màu đen, lưng áo may vải trắng in họa tiết nhiều màu tại vị trái tây nam nhà hàng anh T2.

[4]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thế C – Trần Hoàng D1 – Đặng Đình B – Vũ Thị L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Thế C – Trần Hoàng D1 – Đặng Đình B – Vũ Thị L1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

2.1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS phạt: Nguyễn Thế C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thế C cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, TP . giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Đặng Đình B 30 (ba mươi) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 14 (mười bốn) tháng tù của Bản án Hình sự sơ thẩm số 29/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Buộc Đặng Đình B phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 44 (bốn mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2023 (ngày bắt thi hành án) được trừ thời gian tạm giam từ ngày ngày 05/4/2023 đến ngày 16/6/2023.

2.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Trần Hoàng D1 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 21 (hai mươi mốt) tháng tù của Bản án Hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. Buộc Trần Hoàng D1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 57 (năm mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2023.

2.4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Vũ Thị L1 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Thị L1 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, TP . giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy:

  • Chất màu nâu đỏ (nghi là máu) thu bằng tăm bông (02 tăm bông);
  • Các mảnh nhựa màu xanh thu tại vị trí số 3 (03 mạnh nhựa);
  • Mảnh thủy tinh vỡ thu tại vỉa hè trước quán "Kuma Caffê" (01 mảnh);
  • 01 (một) áo vải bò màu đen, lưng áo may vải trắng in họa tiết nhiều màu tại vị trái tây nam nhà hàng anh T2.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/10/2023 giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Thế C – Trần Hoàng D1 – Đặng Đình B – Vũ Thị L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

+ Các bị cáo: Nguyễn Thế C, Trần Hoàng D1, Vũ Thị L1 có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

+ Bị cáo Đặng Đình B, bị hại Nguyễn Viết T2 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Vương Đăng Khoa

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - CC THA dân sự huyện Chương Mỹ;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Các bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vương Đăng Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 167/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger