TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:167/2023/ HS-ST Ngày: 26/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Thúy Thu.
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Phượng;
- Và bà Quách Thị Thu Hương.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Bùi Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/ 2023/TLST-HS, ngày 20 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2023/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn D (tên gọi khác: không), sinh năm 1988; tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Trung T và bà Nguyễn Thị C; Vợ: Phạm Thị M và 03 con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/8/2023 đến ngày 31/8/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đỗ Văn L, sinh năm 1987. Địa chỉ: thôn K, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt).
- Người làm chứng, người chứng kiến:
- + Anh Nguyễn Đình C1, sinh năm 1970; (Vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Tử H, sinh năm 1958; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhau sau:
Lê Văn D là người nghiện ma túy. Khoảng 10 giờ 10 phút, ngày 26/8/2023, D đang ở chỗ làm tại thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình thì có một người đàn ông sử dụng số điện thoại 0981.332.xxx gọi điện đến số điện thoại 0983.715.xxx của D hỏi có mua ma túy không. Do trước đây D đã từng mua ma túy của người này nên D đồng ý và bảo người này bán cho D 1.000.000 đồng ma túy Heroine. Người này đồng ý hẹn D đến khu vực trước cửa nhà nghỉ H4 đường L, phố B, phường N để bán ma túy. Sau khi thỏa thuận mua ma túy xong, D mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu trắng, biển kiểm soát 35G1-038.67 của anh Đào Đức Thế A điều khiển xe đi đến khu vực đã hẹn. Tại đây D gặp người bán ma túy và đưa cho người này 1.000.000 đồng, người này nhận tiền rồi đưa cho D 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và bảo bên trong bao thuốc có Heroine. Xác định bên trong có ma túy, D cầm bao thuốc trên tay phải sau đó quay lại xe máy đi về tìm chỗ để sử dụng còn người bán ma túy cầm tiền rồi bỏ đi. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi D lên xe máy để đi về thì gặp Tổ công tác Công an phường N, thành phố N đang làm nhiệm vụ tại khu vực. Thấy D có biểu hiện nghi vấn nên Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra biết không thể che giấu được nên D đã tự giác giao nộp bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đang cầm trên tay phải cho tổ công tác và khai nhận bên trong bao thuốc có ma túy H1 vừa mua được để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra bao thuốc lá D giao nộp bên trong có 01 điếu thuốc lá có đầu lọc và 01 gói giấy bạc màu trắng, mở gói giấy bạc màu trắng bên trong có 06 gói giấy bạc nhỏ màu trắng, bên trong 06 gói giấy bạc nhỏ đều có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong gói giấy bạc màu trắng, bên trong có 06 gói nhỏ giấy bạc màu trắng thu giữ của D vào trong một phong bì thư dán kín có chữ ký của những người liên quan theo đúng quy định của pháp luật và yêu cầu những người có liên quan đến trụ sở để làm việc. Ngoài ra còn thu giữ của D 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu trắng, biển kiểm soát 35G1-038.67.
Tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong 06 gói nhỏ giấy bạc màu trắng thu giữ của D có khối lượng 0,33 gam ký hiệu M gửi đi giám định để xác định có phải là chất ma túy không? nếu là ma túy thì là chất ma túy gì? khối lượng là bao nhiêu?
Tại bản kết luận giám định số 692/KL- KTHS -MT ngày 30/8/2023 của phòng K1 Công an tỉnh N kết luận “Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3204 gam, là ma túy, loại loại Heroine (Heroin). Heroine (H2) có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ Luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ". H3 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M còn lại có khối lượng 0,2230 gam, là ma túy loại Heroine; Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 692/KL-KTHS-MT.
Quá trình điều tra, Lê Văn D đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu trắng, biển kiểm soát 35G1-038.67 cho anh Đỗ Văn L là chủ sở hữu theo quy định. Chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình quản lý giải quyết cùng vụ án: 0,2230 gam Heroine còn lại sau giám định cùng vỏ gói ban đầu và phong bì niêm phong gửi giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 phong bì niêm phong ban đầu, 07 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 điếu thuốc lá; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen.
* Tại bản cáo trạng số 153/CT- VKSNDTPNB, ngày 20 tháng 11 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Lê Văn D ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên toà : Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- - Xử phạt: Bị cáo Lê Văn D từ 18 đến 21 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/8/2023.
- - Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,2230 gam ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói bau đầu và phong bì niêm phong gửi giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01phong bì niêm phong ban đầu, 07 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 điếu thuốc lá.
- + Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen là điện thoại bị cáo Lê Văn D sử dụng để liên lạc mua ma túy.
- Về án phí: áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với bản tự khai, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; kết luận giám định số 692/KL-KTHS-MT, ngày 30/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N và phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến...Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 26/8/2023 tại khu vực trước cửa nhà nghỉ H4 đường L, phố B, phường N, thành phố N, Lê Văn D có hành vi cất giấu trái phép 0,3204 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
- Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội, đến sức khoẻ của con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác...Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thoả mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi bị công an kiểm tra biết không thể che giấu được hành vi phạm tội bị cáo đã tự giác giao nộp gói ma túy cho Công an; bố bị cáo là thương binh, người có công với cách mạng được tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng, ông nội bị cáo được tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng nên bị cáo được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tuy nhiên khi lượng hình có xem xét giảm nhẹ cho bị caosd một phần hình phạt giúp bị cáo yên tâm cải tạo.
[2] Các vấn đề khác:
- - Về nguồn gốc số ma túy, loại Heroine thu giữ của bị cáo D: bị cáo khai ngày 26/8/2023 mua của 01 người đàn ông sử dụng số điện thoại 0981.332.xxx. Bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Tra cứu chủ thuê bao 0981.332.445 là anh Vũ Hồng K, sinh năm 1977, trú tại thôn D, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Anh K khai đăng ký và sử dụng sim số trên từ tháng 12 năm 2021 đến cuối tháng 7 năm 2023 thì không sử dụng nữa do bị rơi mất sim. Anh K cũng không quen biết ai tên là Lê Văn D do đó không có cơ sở để điều tra, làm rõ.
- - Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- + Đối với số ma túy, loại Heroine thu giữ của bị cáo D có khối lượng 0,3204 gam, sau khi lấy mẫu giám định (không hoàn trả mẫu vật) số còn lại 0,2230 gam (Được niêm phong trong phong bì) là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- + Đối với Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 phong bì niêm phong ban đầu, 07 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 điếu thuốc lá: đây là các đồ dùng để đựng, niêm phong ma túy ban đầu, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen thu giữ của bị cáo D: đây là tài sản của bị cáo dùng liên lạc với người bán ma túy cho bị cáo, liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu trắng, biển kiểm soát 35G1-038.67 thu giữ của bị cáo D: Quá trình điều tra xác định ngày 26/8/2023 D mượn chiếc xe này của anh Đỗ Đức Thế A1, sinh năm 1995, trú tại thôn Đ, xã N, huyện H. Anh Đỗ Đức Thế A1 khai nhận khoảng đầu tháng 6/2021 có một người tên Q, khoảng 26 tuổi, nhà ở Thanh Hóa (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của Q) đến xưởng của anh Thế A1 xin vào làm, được 01 tuần thì Quang ứng tiền lương là 5.000.000 đồng. Sau khi ứng được lương thì Q bỏ không làm việc nữa và để lại chiếc xe trên tại xưởng của anh Thế A1. Anh Thế A1 để chiếc xe này ở xưởng cho công nhân đi lại. Ngoài lời khai của anh Thế Al về người tên Q không còn tại liệu nào khác do đó không đủ cơ sở để xác minh nhân thân lai lịch của người tên Q. Tra cứu nguồn gốc chủ phương tiện xe xác định chiếc xe là của anh Đỗ Văn L. Anh L khai mua chiếc xe trên khoảng tháng 10/2015 để làm phương tiện đi lại. Tuy nhiên đến khoảng tháng 5/2021 anh L bị kẻ gian trộm cắp mất. Sau khi bị mất xe gia đình anh L có công việc nên anh L không trình báo với cơ quan Công an. Anh L không quen biết người nào tên Q như anh Thế A1 khai báo, không biết người nào tên Lê Văn D cũng như không biết việc anh D sử dụng chiếc xe của mình để đi mua ma túy và có yêu cầu nhận lại tài sản là chiếc xe trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N sau khi xác minh đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả chiếc xe trên cho anh Đỗ Văn L là chủ sở hữu là có cơ sở.
- - Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ mlieen quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Văn D 18 ( mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 26/8/2023.
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm ghi số 692/KL-KTHS-MT vụ Lê Văn D, sinh năm 1988, cất giấu trái phép chất ma túy xảy ra ngày 26/8/2023, tại phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M = 0,2230 gam, ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định bên ngoài ghi ký hiệu M1; phong bì niêm phong ban đầu, 07 mảnh giấy bạc màu trắng . 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định bên ngoài ghi ký hiệu T2; 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 điếu thuốc lá.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen lắp sim số 0983715855 thu giữ của bị cáo Lê Văn D.
- - Về án phí: Bị cáo Lê Văn D phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/12/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Giang Thị Thúy Thu |
Bản án số 167/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 167/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: D 18 tháng tù
