Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2024/HS-ST

Ngày 22-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Song Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Văn Bình

Bà Hà Thị Nga.

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Văn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 143/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 676/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Mạnh T (tên thường gọi: Tú D), sinh ngày 15 tháng 9 năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Bùi Thị D1; chưa có vợ con; tiền án: Bản án số 26/2022/HS-ST ngày 24/5/2022 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 30 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng (chưa được xóa); tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 162/2006/HSST ngày 19/12/2006 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, Bản án số 77/2014/HSST ngày 20/6/2014 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (đều đã được xóa); bị bắt tạm giữ ngày 10/01/2024; tạm giam ngày 18/01/2024; có mặt.
  2. Nguyễn Thu N, sinh ngày 06 tháng 01 năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Số B Đ, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Điều dưỡng viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh N1 và bà Phạm Thị V; có chồng là Vũ Quang T2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 06/3/2024 theo Quyết định khởi tố bị can số 87/QĐ-KTBC (CSMT) và Lệnh bắt bị can để tạm giam số 195/LB-CSMT ngày 06/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; có mặt.
  3. Bùi Văn T3 (tên thường gọi: Tuấn C), sinh ngày 12 tháng 10 năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số H T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H và bà Nguyễn Thị T4; có vợ là Nguyễn Thị Q và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 28/02/2024; có mặt
  4. Nguyễn Mạnh H1 (tên thường gọi: Hoàng L), sinh ngày 23 tháng 01 năm 1992 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số D Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H2 và bà Vũ Thị H3; có vợ là Lưu Thu T5 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 102/2013/HSST ngày 27/9/2013 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 05 năm tù về tội Cố ý gây thương tích (đã được xóa); bị tạm giữ ngày 10/01/2024; tạm giam ngày 18/01/2024; có mặt.
  5. Dương Văn D2 (tên thường gọi: Dũng C1), sinh ngày 20 tháng 7 năm 1991 tại Quảng Ninh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ C khu D phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi sinh sống: Tổ B phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Mạnh H4 và bà Lê Thị D3; có vợ là Trần Thị Hương L1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị truy nã ngày 28/02/2024, đình nã ngày 29/02/2024; bị tạm giữ ngày 29/02/2024; tạm giam ngày 01/03/2024; có mặt

* Bị hại: Anh Phạm Hải T6; nơi cư trú: Số H T, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng: Ông Trần Sỹ T7; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 12/2023, Nguyễn Thu N thuê căn nhà 03 tầng số A P, phường N, quận L, Hải Phòng và ở cùng với bạn trai là Dương Hoàng L2, sinh năm 1994, trú tại: Số B Miếu H, phường D, quận L, Hải Phòng.

Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 09/01/2024, N đi ra khỏi nhà đế về nhà bố mẹ đẻ ở đường Đ, phường D, quận L, Hải Phòng. Đến 01 giờ 30 phút cùng ngày N xem camera trên điện thoại di động thì thấy ở cổng nhà số 17/15/88 Phạm Hữu Đ có 01 người cầm gậy màu đen dài khoảng 60cm và có 02 người đi vào trong nhà. N không biết những người này là ai, N gọi điện cho L2 nhưng L2 không nghe máy, N nghĩ nhóm lạ mặt cầm vũ khí đến để đánh L2 nên đã sử dụng số điện thoại 0789.248.xxx gọi cho Nguyễn Mạnh T thông báo cho T biết về sự việc và nhờ T đến xử lý giúp. Nhung chụp lại hình ảnh từ camera gửi cho T. Lúc này T đang ngồi ăn đêm tại khu vực ngã 4 đường L giao với đường C cùng với Nguyễn Mạnh H1Dương Văn D2. T xem ảnh chụp do N gửi thấy có hình ảnh 01 nam giới cầm gậy đứng ở khu vực cổng nhà N nên rủ D2, H1 đi giải quyết việc. D2H1 đồng ý. Sau đó T điều khiển xe ô tô KIA K3 màu trắng biển kiểm soát 15K-139.14 chở D2 và Hoàng đi chuyến theo tuyến đường L - M - T - Trần Nguyên H5, D2 ngồi ghế phụ, H1 ngồi ghế sau. Quá trình di chuyển, T trao đổi lại với H1, D2 về việc L2 bị người đến nhà đánh và cho H1 xem hình ảnh N gửi. Khi đi đến khu vực ngã tư A thì cả nhóm gặp Bùi Văn T3 điều khiền xe mô tô biển kiểm soát 15B1-589.99 đi cùng chiều. T rủ T3 đi cùng để xử lý nhóm đánh L2 tại nhà N, T3 đồng ý. Khi đến khu vực rẽ vào đường P, do thấy T, H1, D2 chưa có vũ khí nên T3 đã bảo T đến quán ăn đêm ở số B T của chị Chu Hồng A, sinh năm 1989, trú tại: Số B H, L, Hải Phòng đề lấy vũ khi. T điều khiển xe ô tô đi theo xe mô tô của T3, D2 ngồi trong xe lấy khẩu trang phát cho H1, T đeo để tránh bị lộ mặt trong quá trình đánh nhau. Khi đến quán ăn của chị Hồng A, T, H1, D2T3 tự đi vào khu vực bếp bên trong quán ăn để tìm vũ khí. T tìm được 02 con dao cầm lên xe ô tô. Chị Hồng A thấy vậy ngăn cản không cho T lấy dao nhưng không được. T bảo Hoàng trả cho chị Hồng A 200.000 đồng để mua dao khác, chị Hồng A nhận tiền. T3 để lại xe mô tô biển kiểm soát 15B1-589.99 ở cửa quán của chị Hồng A rồi lên xe ô tô biển kiểm soát 15K-139.14 do D2 điều khiển, T ngồi ghế phụ, H1T3 ngồi ghế sau. D2 điều khiển xe đến dầu ngõ H P thì dừng lại để T, H1, T3 xuống xe đi bộ vào nhà N. Khi xuống xe T3 đưa cho T3 01 con dao, T3 cầm 01 con dao còn lại, H1 không cầm vũ khí gì, D2 ngồi trên xê ô tô điều khiển xe quay đầu lại đỗ tại đầu ngõ để đợi T, H1, T3.

Đến khoảng 02 giờ 05 phút ngày 09/01/2024, T, T3, H1 đi bộ đến đầu ngách 15/88 Phạm Hữu Đ thì gặp anh Phạm Hải T6, sinh năm 1992, trú tại: Số H T, phường S, quận H, Hải Phòng, là cán bộ Công an phường N một mình điều khiển xe mô tô đi từ hướng nhà N ra (lúc này anh T6 không mặc trang phục Công an nhân dân). T nghĩ anh T6 là người đến đánh L2 nên quát “Mày là thằng nào đến đây” và lao vào dùng chân đạp vào xe mô tô của anh T6 khiến xe mô tô đổ ra đường. Anh T6 bỏ lại xe chạy quay lại phía trong nhà N được khoảng 05 mét thì bị ngã. T cầm dao (dạng dao chặt, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại, dài khoảng 25cm, bán rộng 07-10cm) ở tay phải chém nhiều nhát hướng từ trên xuống dưới về phía người anh T6. Anh T6 nằm ngửa người khua tay chân để đỡ, đồng thời đẩy người dịch chuyển ngược lại đến trước cửa nhà số F P. H1 cầm dao (dạng dao phay, cán bằng gỗ, lưỡi băng kim loại, dài 34cm, bản rộng 05-07cm) ở tay phải đi đến chỉ tay trái và chửi bới anh T6 rồi đi vào hướng nhà N. T3 thấy anh T6 hô hét to “Các anh nhầm người rồi” nên chỉ tay vào anh T6 quát “Mày im mồm đi” rồi lao vào đạp liên tiếp vào vùng gối trái, mặt, đầu, người anh T6. Cùng lúc này T cũng lao vào dùng chân phải đạp vào người anh T6 và cầm dao ở tay phải chém anh T6 thêm 01 nhát trúng vào gối phải thì dừng lại không chém nữa. TT3 để anh T6 nằm lại và đi bộ vào nhà N. Về phía H1, khi chạy vào đoạn ngách rẽ vào nhà N thì gặp tổ công tác Công an phường N chạy ngược từ nhà N ra. H1 hoảng sợ làm rơi con dao và bỏ chạy ngược ra hướng đầu ngõ gặp T, T3 đang đi vào. H1 hô to cảnh báo "Công an kìa" thì T, T3 cùng H1 bỏ chạy ra ngoài. T chạy lên ngồi ở ghế sau của xe ô tô D2 đang nổ máy đợi sẵn ở đầu ngõ H P, đi được khoảng 50m thì H1 lên xe kịp ngồi ở ghế phụ, T3 chạy bộ bỏ trốn một mình theo hướng khác. Trong lúc bỏ chạy, T làm rơi chiếc chìa khóa xe ô tô KIA K3, biến kiểm soát 15K-139.14 ở hiện trường. D2 điều khiển xe ô tô chở T, H1 bỏ trốn theo đường Phạm Hữu Đ – T - T đi lên đồi Thiên V1 để T vứt con dao vừa sử dụng để gây thương tích cho anh T6 xuống khu đồi không xác định được vị trí cụ thể. Sau đó D2 điều khiển xe ô tô đến đường W, đến đầu cao tốc Hà Nội – Hải Phòng thì D2 xuống xe giao lại xe ô tô cho T chở H1 bỏ trốn.

Sau khi xuống xe và giao lại xe cho TH1, D2 về nhà và bỏ trốn. Đến ngày 29/02/2024 khi D2 đang lẩn trốn tại địa bàn phường H, thành phố H thì bị lực lượng Công an bắt giữ theo Quyết định truy nã số 428 ngày 28/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L.

Quá trình bỏ trốn, TN liên lạc điện thoại với nhau nhiều lần trao đổi về việc T đã gây thương tích cho anh T6Công an phường N. N là người nói cho T biết anh T6 là Công an và thấy sự việc phức tạp nên bảo T trốn đi.

Kết luận giám định thương tích số 37 ngày 10/01/2024 của Trung tâm P kết luận: "Nạn nhân Phạm Hải T6 bị 01 vết thương mặt trước trong gối phải làm giảm 02% sức khỏe. Các thương tích vết xước da vùng trán phải; trật khớp khuỷu tay phải; vết thương thấu khớp gối phải, mẻ xương đầu dưới xương đùi phải, trật khớp khuỷu phải còn sưng nề, khi nào nạn nhân ra viện đề nghị Cơ quan điều tra cho giám định bổ sung sau".

Kết luận giám định thương tích bổ sung số 154 ngày 28/02/2024 của Trung tâm P kết luận: "Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết gây xước da vùng trán gây nên là 03%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do chấn động não là 01%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích mẻ xương lồi cầu ngoài xương cánh tay phải gây nên là 02%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do các thương tích đầu gối phải, gây rách bao khớp gối là 20%; bản kết luận giám định thương tích số 37 ngày 10/01/2024 kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân là 02%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân áp dụng phương pháp cộng của Thông tư 22 ngày 28/8/2019 của Bộ Y là 25%".

Ngày 11/01/2024, Nguyễn Mạnh TNguyễn Mạnh H1 bị Cơ quan điều tra bắt giữ. Ngày 28/02/2024 Bùi Văn T3 bị bắt tạm giam. Ngày 29/02/2024 Dương Văn D2 bị bắt theo Quyết định truy nã số 428 ngày 28/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L. Ngày 06/3/2024, Nguyễn Thu N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L bắt trong vụ án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra tại nhà số B T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Mạnh H1, Bùi Văn T3, Dương Văn D2Nguyễn Thu N đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên.

Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Mạnh H1Dương Văn D2 còn khai: Trong khi di chuyển từ quán ăn ở đường L đến khu vực nhà N, sau khi gửi hình ảnh chụp từ camera, N liên tục gọi điện cho T thúc giục đến nhanh, L2 đang bị đánh trong nhà. T khai N còn dặn T gọi thêm người, mang theo vũ khí đến.

Nguyễn Thu N khai: N biết T là người mới đi tù về và là anh em xã hội thân thiết với L2. Trước đây, T nói với N "Nếu L2 có vấn đề gì thì gọi cho T đến". N nghĩ T có thể giải quyết được những công việc liên quan đến giới xã hội nên khi có việc xảy ra với L2 thì N gọi điện cho T đến xử lý. Nhung nhận thức được có thể sẽ xảy ra sự việc đánh nhau giữa T với những người mang vũ khí đến nhà N. Sau khi gọi điện nhờ T, N đã gửi hình ảnh chụp từ camera cho T, sau đó chỉ liên lạc lại với T sau khi đã xảy ra sự việc gây thương tích cho anh T6. N không bảo T gọi thêm người và cầm theo vũ khí, không gọi điện thúc giục T đến nhanh. Sau khi đối chất, NT vẫn giữ nguyên lời khai của mình.

Bị hại Phạm Hải T6 khai: Khoảng 00 giờ 30 phút anh T6 có mặt trong tổ công tác Công an phường N tiến hành kiểm tra tại nhà số A P có nghi vấn phạm tội về ma túy. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, anh T6 mặc thường phục điều khiển xe máy về trụ sở Công an phường để lấy thêm tài liệu, đồ vật phục vụ công tác kiểm tra. Khi điều khiển xe đến đầu ngách 15/88 Phạm Hữu Đ thì bị T, H1, T3 đi bộ từ ngoài ngõ vào trong ngách có hành vi gây thương tích như đã nêu ở trên. Sau khi gây thương tích cho anh T6, T, H1, T3 đi bộ theo hướng vào nhà N nhưng gặp tổ công tác C2 đuổi theo nên hoảng sợ bỏ chạy, anh T6 được những người trong tổ công tác đưa đi cấp cứu.

Người làm chứng ông Trần Sỹ T7 khai: Khoảng 00 giờ 30 phút ông T7 thuộc ban bảo vệ dân phố phường Niệm Nghĩa kết hợp cùng tổ công tác Công an phường N (trong đó có anh Phạm Hải T6) tiến hành kiểm tra tại nhà số A P có nghi vấn phạm tội về ma túy. Ông T7 được phân công làm nhiệm vụ đứng bảo vệ vòng ngoài. Trong lúc kiểm tra, anh Phạm Hải T6 điều khiển xe máy về trụ sở Công an phường để lấy thêm tài liệu phục vụ công tác kiểm tra, thu giữ tang vật. Khi anh T6 vừa đi ra đầu ngách 15/88 Phạm Hữu Đ thì ông T7 nghe thấy tiếng hô thất thanh của anh T6. Ông chạy ra theo thì thấy có 03 nam giới đang lao vào đánh anh T6, trong đó có 02 nam giới cầm dao. Anh T6 bị ngã ngửa dưới mặt đất, dùng chân đạp về phía 03 nam giới và hô “Các anh nhầm người rồi”. Ông T7 bảo “Sao chúng mày lại đánh người thế này” tuy nhiên 1 trong 3 đối tượng chỉ tay và đe dọa chém ông T7. Thấy các đối tượng rất manh động và hung hãn nên ông T7 chạy vào phía trong nhà số A P thông báo cho tổ công tác. Ngay sau đó ông T7 cùng tổ công tác chạy ra ngoài và đuổi theo 03 đối tượng trên, các đối tượng bỏ chạy ra phía ngõ 88 Phạm Hữu Đ. Ông T7 đuổi theo đến đầu ngách 15/88 Phạm Hữu Đ thì quay lại chỗ anh T6, thấy anh T6 bị chảy máu nhiều ở chân, mặt bị sưng tím nên đã cùng anh Lương Văn Đ1 – tổ viên tổ bảo vệ dân phố đưa anh T6 đi cấp cứu tại Bệnh viện V2.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình của các bị cáo đã bồi thường cho anh T6 tổng số tiền là 100.000.000 đồng, trong đó đại diện gia đình Nguyễn Thu N bồi thường 20.000.000 đồng, đại diện gia đình Bùi Văn T3 bồi thường 30.000.000 đồng, đại diện gia đình Dương Văn D2 bồi thường 10.000.000 đồng, đại diện gia đình Nguyễn Mạnh H1 bồi thường 20.000.000 đồng và đại diện gia đình Nguyễn Mạnh T bồi thường 20.000.000 đồng. Anh T6 đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì ngày. Ngày 25/6/2024 anh T6 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Đối với chị Chu Hồng A chủ quán ăn đêm tại số B T, việc các bị cáo T, H1, T3, D2 vào khu vực bếp trong nhà tìm dao chị đã ngăn cản không cho T lấy 02 con dao nhưng T đã bảo Hoàng đưa cho chị Hồng A 200.000 đồng. Chị Hồng A không biết các bị cáo lấy dao để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Chị Hồng A không yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị 02 con dao mà các bị cáo đã lấy của chị.

Tại bản Cáo trạng số 157/CT-VKSLC ngày 05/7/2024, bổ sung ngày 22/8/2024 đối với phần xử lý vật chứng, Viện kiểm sát nhân dân quận L đã truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Thu N, Bùi Văn T3, Nguyễn Mạnh H1Dương Văn D2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Thu N, Bùi Văn T3, Nguyễn Mạnh H1Dương Văn D2 đều khai nhận như nội dung nêu trên. Các bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đối với việc T khai N bảo T gọi thêm người và cầm theo vũ khí, gọi điện thúc giục T đến nhanh, N thừa nhận đã gọi điện cho T nhiều lần thông báo về việc L2 bị đánh và giục T đến nhanh, thông báo nhóm tìm đến nhà có nhiều người và có hung khí. N cho rằng với những thông tin như vậy, T sẽ tự biết cách xử lý vì T là đối tượng xã hội có nhiều tiền án.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Mạnh T.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T mức án từ 36 (ba mươi sáu) tháng đến 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thu N mức án từ 36 (ba mươi sáu) tháng đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T3 mức án từ 36 (ba mươi sáu) tháng đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H1 mức án từ 33 (ba mươi ba) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Dương Văn D2 mức án từ 30 (ba mươi) tháng đến 33 (ba mươi ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 USB có video ghi lại sự việc là tài liệu chuyển theo hồ sơ vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Đối với 01 con dao cán gỗ dài 34cm xét là công cụ, phương tiện phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu xanh đen đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Mạnh T xét là công cụ, phương tiện phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 xe ô tô KIA K3 màu trắng biển kiểm soát 15K-139.14 và 01 chìa khóa xe ô tô, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là chị Trần Thị Hồng N2, sinh năm 1993, trú tại: Số C T, phường T, quận L, Hải Phòng. Chị N2 cho Dương Văn D2 thuê xe nhưng không biết D2 sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô và chìa khóa xe cho chị N2.
  • - Đối với 01 xe mô tô Liberty màu vàng biển kiểm soát 15B1-589.99, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 039437, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Đức T8, sinh năm 1987, trú tại: Số C Khúc T, phường V, quận L, Hải Phòng. Anh T8 cho Bùi Văn T3 mượn xe nhưng không biết việc T3 sử dụng xe để đi lấy hung khí thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe cho anh T8.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã bồi thường tổng số tiền là 100.000.000 đồng cho anh Phạm Hải T6. Đến nay anh T6 không yêu cầu bồi thường gì khác đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, bị hại anh Phạm Hải T6 và người làm chứng ông Trần Sỹ T7 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Trên cơ sở quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại các Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi cố ý gây thương tích: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, các chứng cứt, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Hồi 01 giờ 51 phút, Nguyễn Thu N có hành vi gọi điện thoại nhờ Nguyễn Mạnh T đến giải quyết nhóm người mà N cho rằng cầm hung khí đến nhà N tại số A P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng để tìm đánh Dương Hoàng L2. Đến khoảng 02 giờ 05 phút cùng ngày, tại khu vực ngách A P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Mạnh T và đồng bọn đã có hành vi dùng chân đạp nhiều lần vào vùng mặt, đầu, người, dùng dao chém vào đầu gối phải của anh Phạm Hải T6, làm anh T6 bị tổn thương cơ thể 25%. Hành vi của các bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết định khung: Nguyên nhân của sự việc xuất phát từ việc Nguyễn Thu N xem camera trên điện thoại thấy có người cầm hung khí đến trước cửa nhà N. Tuy không biết mục đích của nhóm người đó nhưng N cho rằng họ đến tìm đánh Dương Hoàng L2 ở trong nhà. Thay vì gọi báo cho chính quyền địa phương, N đã gọi nhờ Nguyễn Mạnh T giải quyết dù nhận thức rõ là sẽ xảy ra đánh nhau. Nguyễn Mạnh T nhận lời giúp N, chủ động rủ thêm Nguyễn Mạnh H1, Dương Văn D2Bùi Văn T3 đi cùng, cùng chuẩn bị vũ khí là 02 con dao dạng dao chặt, dao phay, chuẩn bị khẩu trang để tránh lộ mặt, chuẩn bị xe ô tô để tẩu thoát. Khi gặp anh Phạm Hải T6 đi ngược từ trong ngách 15/88 Phạm Hữu Đ ra, T, H1, T3 ngay lập tức cho rằng anh T6 là đối tượng tìm đến nhà N để đánh L2 nên đã đạp đổ xe của anh T6, dùng chân đạp vào vùng nguy hiểm là đầu, mặt, người anh T6, dùng dao chém liên tiếp về phía anh T6 dù anh T6 đã hô hoán và nói nhận nhầm người rồi, trước khi bỏ đi còn chém một nhát trúng đầu gối phải của anh T6. Hành vi của các bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, có dùng hung khí nguy hiểm (điểm a,i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự) coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Do thương tích gây nên cho bị hại là 25% nên các bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội vì vậy cần phải được xử lý nghiêm.

[6] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm nên cần phân tích vai trò phạm tội của từng bị cáo làm cơ sở để cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Mạnh T là người chỉ huy, cầm đầu, trực tiếp lấy công cụ phạm tội, trực tiếp dùng dao gây thương tích cho bị hại nên có vai trò cao nhất. Bị cáo Nguyễn Thu N là người xúi giục, là tác nhân chính gây nên sự việc phạm tội, sau khi biết sự việc gây thương tích xảy ra đã gọi điện báo T và đồng bọn bỏ trốn; bị cáo Bùi Văn T3 là người thực hành tích cực, gợi ý việc lấy công cụ phạm tội, trực tiếp dùng chân đạp vào vùng nguy hiểm trên người bị hại gây thương tích, hai bị cáo NT3 có vai trò ngang nhau, thấp hơn T nhưng cao hơn H1D2. Bị cáo Nguyễn Mạnh H1 cầm vũ khí do T đưa cho, đi cùng TT3 vào ngách 15/88 Phạm Hữu Đ, tuy không trực tiếp gây thương tích cho bị hại nhưng là người giúp sức về mặt tinh thần nên có vai trò cao hơn D2. Bị cáo Dương Văn D2 chuẩn bị khẩu trang, điều khiển xe ô tô chở đồng bọn đến hiện trường sau đó chờ ở đầu ngõ để chở đồng bọn tẩu thoát, không trực tiếp chứng kiến việc đồng bọn gây thương tích cho bị hại nên có vai trò thấp nhất.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo Nguyễn Mạnh T có 03 tiền án, trong đó có 01 tiền án chưa được xóa, 02 tiền án đã được xóa nên lần phạm tội này bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Thu N, Bùi Văn T3, Nguyễn Mạnh H1Dương Văn D2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; bị cáo Nguyễn Mạnh T có bố đẻ là ông Nguyễn văn T9 là Hội viên Hội C3, thương binh hạng 1/8; bị cáo Bùi Văn T3 đã có thời gian tham gia quân ngũ; bị cáo Nguyễn Thu N có bố đẻ là ông Nguyễn Minh N1 được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 3 nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[9] Về hình phạt áp dụng: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là một vụ án có nhiều đồng phạm, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng với mức độ tổn thương cơ thể đã gây ra cho bị hại cần phải xử phạt các bị cáo hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án để có mức hình phạt phù hợp, đảm bảo tỉnh răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Phạm Hải T6 đã nhận được số tiền 100.000.000 đồng bồi thường, đến nay anh không yêu cầu gì khác đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[11] Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận L đang quản lý 01 con dao cán gỗ dài 34cm, 01 điện thoại di động Iphone màu xanh đen đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Mạnh T, xét thấy đây là các công cụ, phương tiện phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy (đối với con dao) và tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước (đối với điện thoại di động). Đối với 01 USB có video ghi lại sự việc là tài liệu chuyển theo hồ sơ vụ án nên không xem xét giải quyết

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Các bị và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Mạnh T.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Thu N, Bùi Văn T3, Nguyễn Mạnh H1Dương Văn D2 đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 01 năm 2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thu N 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06 tháng 3 năm 2024.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T3 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 02 năm 2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H1 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 01 năm 2024.

Xử phạt bị cáo Dương Văn D2 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29 tháng 02 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao cán gỗ dài 34cm.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu xanh đen (không lên nguồn) thu giữ của Nguyễn Mạnh T.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 7 năm 2024 và ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Thu N, Bùi Văn T3, Nguyễn Mạnh H1Dương Văn D2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản ản được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân;
  • - Cơ quan THAHS quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - PV06, PC10 Công an TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Song Hải

Đối với bị cáo Nguyễn Thu N, nên cần xem xét áp dụng mức hình phạt ......

Đối với bị cáo Nguyễn Mạnh T là người có nhân thân xấu, lần phạm tội này bị coi là tái phạm, là người rủ T3, H1D2 tham gia, trực tiếp lấy vũ khí, chia vũ khí cho H1, trực tiếp dùng vũ khí gây thương tích cho anh T6 nên cần áp dụng mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác.

Đối với bị cáo Bùi Văn T3 là người đề xuất nơi lấy vũ khí, trực tiếp dùng chân gây thương tích cho anh T6 nên cần áp dụng mức hình phạt cao hơn các bị cáo Nguyễn Mạnh H1Dương Văn D2.

Đối với bị cáo Dương Văn D2, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã lẩn trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định truy nã số 428 ngày 28/02/2024, ngày 29/02/2024 bắt tạm giữ và đình nã theo Quyết định đình nã số 438 ngày 29/02/2024, nhận thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo kém, không tự giác đầu thú nên cần áp dụng mức hình phạt cao hơn bị cáo Nguyễn Mạnh H1.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 167/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Mạnh Tú
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger