Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG


Bản án số: 167/2024/HS-ST

Ngày 21-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Thị Hạ

Ông Phạm Mạnh Hùng

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hoài Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 165/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Thị V, sinh ngày 07 tháng 01 năm 1972 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số E Lò Vôi B, phường T, quận H, Hải Phòng; chỗ ở: 3 H, phường T, quận H, Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; có chồng là Đậu Văn L (đã chết) và 04 con; nhân thân: Bản án số 42/HSST ngày 31/5/2000 Tòa án nhân dân huyện An Hải, thành phố Hải Phòng (nay là huyện A, thành phố Hải Phòng) xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, 48 tháng thử thách về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân (đã được xóa án tích); tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 01 tháng 12 năm 2023; chuyển tạm giam ngày 06 tháng 12 năm 2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua công tác nắm tình hình địa bàn, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố H xác định tại địa chỉ số C H, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng có đối tượng Lê Thị V, sinh năm 1972, nơi ĐKHKTT: SỐ E Lò Vôi B, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng có biểu hiện nghi vấn hoạt động tội phạm về ma túy. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố đã kết hợp cùng Công an phường T, quận H, thành phố Hải Phòng tiến hành giám sát tại khu vực ngõ A Hùng D. Đến khoảng 16 giờ 15 phút ngày 01/12/2023 tổ công tác phát hiện 01 đối tượng nam giới điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Nouvo BKS 15N1-113.32 tiếp xúc với đối tượng nữ giới nghi vấn thực hiện giao dịch mua bán ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra đối với 02 đối tượng thì người nam giới đã bỏ chạy để lại xe mô tô còn người nữ giới khai tên là Lê Thị V sinh năm 1972, ĐKHKTT ở Lò Vôi B, phường T, quận H thành phố Hải Phòng; Nơi ở: Số C H, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng. Tại vị trí dưới đất Lê Thị V đứng, Cơ quan Công an phát hiện thu giữ 02 túi ni lon màu trắng kích thước khoảng 2,5x2,5cm trong có chứa tinh thể màu trắng (mẫu QT), thu giữ của V 01 điện thoại di động Iphone, 2.550.000đồng, thu 01 xe mô tô nhãn hiệu Nouvo BKS 15N1-113.32 và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với V.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của V thu giữ:

Trên nóc đồng hồ đứng trong nhà có 01 túi ni lon màu trắng kích thước khoảng 2,5x2,5cm trong có 03 viên nén màu hồng, trên mặt có dập chữ WY (mẫu KX1).

Trên mặt A tại chiếu nghỉ cầu thang có 01 túi ni lon màu vàng bên trong có: 01 túi ni lon màu trắng kích thước khoảng 08x14cm trong bám dính tinh thể màu trắng (mẫu KX2); 01 túi ni lon màu trắng kích thước khoảng 5x7cm trong có tinh thể màu trắng (mẫu KX3); 01 ống hút màu đỏ kích thước dài khoảng 12cm cắt vát 01 đầu, 01 ống hút màu đen kích thước dài khoảng 11cm cắt vát 01 đầu, 01 ống hút màu trắng dài khoảng 03cm cắt vát 01 đầu và 01 cân điện tử màu đen.

Trong 01 túi xách màu đen treo trên tường trong phòng ngủ: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 20.000đồng trong có chất bột màu trắng (mẫu KX4); 01 ống hút được cuộn bằng tiền 20.000đồng (được cuộn bằng băng dính màu đen) bên trong ống hút bám dính chất bột màu trắng (mẫu KX5).

Trong hộp màu đen trên đệm ngủ phòng của V: 2.200.000đồng.

Trên bàn máy vi tính trong phòng ngủ: 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh; 01 điện thoại Iphone màu ghi.

Tại Kết luận giám định số 987/KL-KTHS ngày 04/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: số tinh thể màu trắng (mẫu QT) là ma túy, có khối lượng 1,23 gam, loại Methamphetamine; viên nén màu hồng (mẫu KX1) là ma túy, khối lượng 0,29 gam, loại Methamphetamine; tinh thể màu trắng bám dính trong túi nilon (mẫu KX2) là ma túy, loại Methamphetamine không đủ điều kiện cân xác định khối lượng tinh thể bám dính; tinh thể màu trắng (mẫu KX3) là ma túy, khối lượng 4,49 gam loại Methamphetamine; chất bột màu trắng (mẫu KX4) là ma túy, có khối lượng 0,05 gam, loại Ketamine; chất bột màu trắng (mẫu KX5) là ma túy, loại Ketamine không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất bột bám dính.

Kết luận giám định số 214/KL-KTHS ngày 20/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Trên các mẫu KX1, KX2, KX3 có kiểu gen lẫn, trong đó có tế bào của Lê Thị V.

Tại cơ quan điều tra, Lê Thị V khai nhận: Trưa ngày 01/12/2023 V uống rượu tại nhà bạn là Phạm Minh H, sinh năm 1970, nhà ở số B T, quận L, thành phố Hải Phòng. Khoảng 15 giờ cùng ngày V đi mua bia ở đầu ngõ thì gặp H1 (chưa xác định được lai lịch) là bạn xã hội. Vịnh nhờ H1 chở về nhà ở số C H, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng để cho chó ăn, H1 đồng ý. Nhưng H1 bảo không có xe nên V đã quay lại mượn xe mô tô BKS 15N1-113.32 của H rồi đưa xe cho H1 điều khiển để chở V. Khi đến nhà V, do say rượu nên V đưa chìa khóa nhà cho H1 để mở cửa hộ, V vào trong nhà vệ sinh còn H1 đứng ngoài cửa chờ. Sau đó, V ra cho chó ăn thì không thấy H1. V đi bộ ra đầu ngõ tìm, sau đó khi đang quay lại nhà thì thấy H1 điều khiển xe quay lại. V bảo H1 chở đi trả xe cho H. Khi H1 chở V đi ra đến đầu ngõ thì Cơ quan Công an yêu cầu kiểm tra. H1 bỏ xe mô tô chạy thoát còn V bị Cơ quan Công an kiểm tra. Vịnh không biết 02 túi ni lon có ma túy ở tại vị trí đứng của Vịnh là của ai, không phải của V.

Về số ma túy và các đồ vật thu giữ khi khám xét tại nơi ở của V, V khai: 01 túi ni lon có chứa ma túy đá và 01 túi ni lon có bám dính ma túy đá, 01 cân điện tử, 04 ống hút trong túi ni lon màu vàng và 01 túi ni lon chứa thuốc lắc không phải của V, V nghĩ là của H1 để vào trong nhà V. Đối với tờ tiền mệnh giá 20.000đồng chứa ma túy Ketamine và 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000đồng bám dính ma túy Ketamine trong vỏ bao thuốc lá V khai do nhặt được vào cuối năm 2022 mang về nhà cất giấu trong túi xách treo trên tường. Vịnh không kiểm tra nên không biết bên trong bao thuốc lá có gì.

Vật chứng: số ma túy còn lại sau giám định và các đồ vật liên quan thu giữ trong quá trình điều tra (có bảng kê vật chứng kèm theo) chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng chờ xử lý.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Nouvo BKS 15N1-113.32 thu giữ khi bắt quả tang Lê Thị V, qua điều tra xác định được xe Vịnh mượn của anh Phạm Minh H.

Tra cứu dữ liệu đăng ký xe mô tô trên được đăng ký chủ sở hữu là anh Phạm Văn H2 sinh năm 1984, số D H, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng. Anh H2 khai mua xe mô tô trên tại của hàng bán xe máy ở T, quận L, Hải Phòng đăng ký BKS là 16L8-7980. Đến năm 2014 anh H2 đã đổi BKS xe trên thành 15N1-113.32. Đến năm 2020 anh H2 bán xe cho cửa hàng mua bán xe máy cũ nhưng không nhớ địa chỉ. Anh H khai năm 2020 anh mua xe mô tô trên của người đàn ông (không rõ lai lịch địa chỉ) và không có giấy tờ mua bán xe. Chiều ngày 01/12/2023 anh cho V mượn xe mô tô này và không thấy V quay lại trả xe. Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô trên nên cơ quan điều tra đã tách tài liệu liên quan đến xe mô tô này để điều tra làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 169/CT-VKS-P1 ngày 31 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lê Thị V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành phục hồi dữ liệu điện thoại của Lê Thị V. Kết quả có một số nội dung tin nhắn có dấu hiệu của việc mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, V không giải thích được các nội dung tin nhắn đó. Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập các đối tượng Lê Đình T, sinh năm 1989 ở 210 TT dãy C L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; Phạm Đức T1, sinh năm 1990, ở số C T, phường N, quận L, Hải Phòng để làm việc. Nhưng các đối tượng trên đều khai nhận không nhắn tin cho V, không rõ tại sao có nội dung tin nhắn đó; đối tượng Phạm Phúc L1, sinh năm 1996, ở số F T, quận H, Hải Phòng vắng mặt nên Cơ quan điều tra không ghi được lời khai. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để kết luận Lê Thị V có hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Đối với H1 là đối tượng chở V về nhà, khi Cơ quan công an kiểm tra thì đã bỏ chạy. Do V không khai báo được nhân thân, lai lịch của H1 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm n khoản 2, khoản 5 Điều 249; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Thị V từ 06 năm 06 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định, 04 ống hút, 01 cân điện tử màu đen; tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 40.000 đồng

Trả lại bị cáo số tiền 4.750.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone màu đen; 01 điện thoại Iphone màu ghi; 01 điện thoại nhãn hiệu VSMART nhưng cần tiếp tục tạm giữ số tiền 4.750.000 đồng để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo được mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật

  2. [2] Về tội danh và khung hình phạt: Mặc dù, quá trình điều tra, truy tố Lê Thị V không nhận số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ khi bắt quả tang và số ma túy thu giữ khi khám xét nơi ở là của bản thân Vịnh. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, đủ cơ sở kết luận: Ngày 01/12/2023, Lê Thị V đã có hành vi cất giấu trái phép 6,01 gam ma túy Methamphetamine và 0,05 gam ma túy Ketamine bị Cơ quan công an phát hiện thu giữ.

    Hành vi của bị cáo Lê Thị V thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

    Việc truy tố của Viện kiểm sát thành phố Hải Phòng về tội danh cũng như điều luật áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định pháp luật.

  3. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước ta mà còn gây mất trị an ở địa phương và là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

  4. [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  5. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mặc dù, quá trình điều tra, truy tố Lê Thị V không nhận số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ khi bắt quả tang và số ma túy thu giữ khi khám xét nơi ở là của bản thân Vịnh. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  6. [6] Về quyết định hình phạt: Bị cáo nhân thân có 01 tiền án đã được xóa án tích. Lần phạm tội này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét bị cáo đã được cải tạo giáo dục nhưng vẫn không lấy đó làm bài học lại tiếp tục phạm tội nên cần xét xử bị cáo mức án nghiêm theo đề nghị của Kiểm sát viên mới phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.

  7. [7] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo cần căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo là phạt tiền theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

  8. [8] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong các phong bì; 04 ống hút; cân điện tử là đồ vật Nhà nước cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Đối với 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Đối với số tiền 4.750.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen; 01 điện thoại Iphone màu ghi; 01 điện thoại nhãn hiệu VSMART không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo. Nhưng cần tiếp tục tạm giữ số tiền 4.750.000 đồng để đảm bảo việc thi hành án

  9. [9] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm n khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Lê Thị V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị V 06 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 12 năm 2023.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Phạm Hoàng H3, Phạm Văn T2, Hà Duy Q, Lê Thị V, Hà Xuân T3 và dấu niêm phong số 987MT/PC09; 01 phong bì niêm phong ghi chữ “QT” và chữ ký của Đào Bích H4, Nguyễn Anh D; 01 phong bì niêm phong ghi chữ “KX1” và chữ ký của Đào Bích H4, Nguyễn Anh D; 01 phong bì niêm phong ghi chữ “KX2” và chữ ký của Đào Bích H4, Nguyễn Anh D; 01 phong bì niêm phong ghi chữ “KX3" và chữ ký của Dào B, Nguyễn Anh D; 01 phong bì niêm phong ghi chữ “KX4” và chữ ký của Đào Bích H4, Nguyễn Anh D; 01 phong bì niêm phong ghi chữ “KX5” và chữ ký của Đào Bích H4, Nguyễn Anh D; 01 phong bì niêm phong ghi chữ “Phong bì có dấu niêm phong số 987MT-A/PC09” và chữ ký của Đào Bích H5, Nguyễn Anh D; 01 ống hút màu đỏ kích thước dài khoảng 12 cm một đầu ống hút cắt vát; 01 ống hút màu đen kích thước dài khoảng 11 cm một đầu ống hút cắt vát; 01 ống hút màu trắng kích thước dài khoảng 07 cm một đầu ống hút cắt vát; 01 ống hút màu trắng kích thước dài khoảng 03 cm một đầu ống hút cắt vát; 01 cân diện tử màu đen.

Trả lại bị cáo Lê Thị V: 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE màu ghi bị vỡ màn hình đã qua sử dụng, khay sim có dãy số IMEI: 353288070995984; 01 điện thoại nhãn hiệu VSMART màu xanh đã qua sử dụng, số IMEI 1: 356764100625871, IMEI 2: 356764100625889; 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 355346085454286.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 4.750.000 đồng của Lê Thị V1 để đảm bảo việc thi hành án.

(Vật chứng được lưu giữ theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 15/8/2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng và theo ủy nhiệm chi lập ngày 21/8/2024)

+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng.

(Vật chứng được lưu giữ tại kho tang vật của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố H theo công văn số 3636/CSMT ngày 21/8/2024)

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Cục THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - UBND xã (nơi BC cư trú);
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 167/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị V tàng trữ trái phép ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger