TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 122/2025/HS-ST Ngày: 30-5-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đại.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lương Thanh Kỳ;
Bà Nguyễn Thị Quy .
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Quang Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh Ngọc- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; Tòa án nhân dân huyện Định Quán tiến hành xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Nhật H; Giới tính: Nam; Sinh năm 2000, tại tỉnh Cà Mau; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Chí H1 và con bà Nguyễn Hoài L; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: không. Tiền án: 01 tiền án: Tại Bản án số 92/2020/HS-ST ngày 16/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt Lê Nhật H 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/5/2021. Bị cáo chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm; Tại Bản án số 39/2021/HS-ST ngày 20/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán xử phạt Lê Nhật H 01 năm 6 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/11/2022. Bị cáo chưa chấp hành xong nghĩa vụ dân sự và án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2025 đến nay (Có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Liu Tiến C, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 25/12/2024, anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1995 để 01 xe mô tô hiệu Waytex màu xanh, biển số 53X-2980 ở trước sân nhà tại ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai và đi vào trong nhà. Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, Lê Nhật H đi ngang qua nhà anh Đ thì phát hiện xe mô tô trên nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H đi đến nơi dựng chiếc xe mô tô thì phát hiện xe đang cắm sẵn chìa khóa, H nhanh chóng ngồi lên xe mô tô để khởi động xe và điều khiển xe tẩu thoát. Đến sáng ngày 26/12/2024, H đem chiếc xe trộm được bán cho anh Liu Tiến C, sinh năm 1987, trú tại ấp P, xã L, huyện Đ với giá 700.000 đồng. Sau đó, anh C bán xe mô tô trên cho anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1978, trú tại ấp P, xã L với giá 900.000 đồng, anh H2 tiếp tục bán xe mô tô trên cho một người đi buôn sắt vụn (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 950.000 đồng. Ngày 14/01/2025, sau khi biết anh Đ trình báo Cơ quan Công an về việc bị trộm cắp tài sản, Lê Nhật H đến Công an xã P đầu thú. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Lê Nhật H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Về vật chứng đã thu giữ: Số tiền 950.000đ (chín trăm năm mươi nghìn đồng) do anh Nguyễn Văn H2 tự nguyện giao nộp.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐGTS ngày 21/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Đ kết luận: 01 xe mô tô hiệu Waytec màu xanh, biển số 53X-2980 có giá trị là 2.067.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Hiện không thu hồi được đối với 01 xe mô tô hiệu Waytec màu xanh, biển số 53X-2980. Tuy nhiên bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Đối với anh Liu Tiến C, anh Nguyễn Văn H2 khi mua chiếc xe mô tô trên không biết là tài sản do Lê Nhật H trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đồng thời anh Nguyễn Văn H2 đã tự nguyện nộp lại số tiền 950.000 đồng thu lợi từ việc bán xe mô tô trên.
Tại Bản cáo trạng số 121/CT- VKSÐQ ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Lê Nhật H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Nhật H: Từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị sung công quỹ Nhà nước số tiền 950.000đ. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên Tòa bị cáo không phát biểu tranh luận. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa (bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Liu Tiến C có đơn xin xét xử vắng mặt), tuy nhiên lời khai của người này đã có trong quá trình điều tra, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự nên không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 50 phút ngày 25/12/2024, tại ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Lê Nhật H đã có hành vi lén lút trộm cắp của anh Nguyễn Văn Đ 01 xe mô tô hiệu Waytec màu xanh, biển số 53X-2980, có giá trị tài sản là 2.067.000 đồng. Hành vi của bị cáo Lê Nhật H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của bị hại với giá trị tài sản bị chiếm đoạt có giá trị 2.067.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng và quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, cố gắng thực hiện hành vi phạm tội tới cùng qua đó cho thấy bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng (biện pháp tư pháp): Cần tịch thu sung công quỹ: số tiền 950.000đ (chín trăm năm mươi nghìn đồng) do anh Nguyễn Văn H2 tự nguyện giao nộp.
[8] Về tội danh, điều luật và mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Đối với anh Liu Tiến C, anh Nguyễn Văn H2 khi mua 01 xe mô tô hiệu Waytec màu xanh, biển số 53X-2980 không biết là tài sản do Lê Nhật H trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đồng thời anh Nguyễn Văn H2 đã tự nguyện nộp lại số tiền 950.000 đồng thu lợi từ việc bán xe mô tô trên. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý anh anh C và anh H2 là đúng quy định của pháp luật
[10] Xét ý kiến tranh luận của bị cáo và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo, thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đều biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Về án phí: Cần buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Nhật H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Lê Nhật H: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/01/2025.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền 950.000 đồng (chín trăm năm mươi nghìn đồng).
(Đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán theo biên lai thu tiền số 0006195 ngày 14/5/2025.)
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo: Lê Nhật H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo: Lê Nhật H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Nguyễn Văn Đ; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Liu Tiến C, anh Nguyễn Văn H2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đại |
Bản án số 122/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 122/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Nhật H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
