|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 167/2025/DS-PT Ngày: 16 - 4 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trọng Quế
Ông Đỗ Cao Khánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Thũy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 19/12/2024 và ngày 16/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 428/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 284/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 340/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1944. Địa chỉ : Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (văn bản ủy quyền ngày 10/6/2024, có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn H: Bà Nguyễn Tố N thuộc Văn phòng L - Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn D: Ông Trần Văn Đ – là Luật sư thuộc Công ty L1 – Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn B, sinh năm 1938. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (xin vắng).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn B: Bà Huỳnh Mỹ S, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (có mặt).
- Bà Cao Thị Hồng N1, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (xin vắng).
Người kháng cáo: Ông Trần Văn H là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của ông Trần Văn H và quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Văn T trình bày:
Khoảng năm 1982, cha ông H là cụ Trần Văn C (bí danh N) công tác tại xã T, cụ N2 được Ủy ban nhân dân (UBND) xã cấp 01 dây đất diện tích khoảng 10.000m² (chiều dài từ Sông B Két đến lộ xe hiện nay); năm 1995, ông H được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng quyền sử dụng đất (Giấy chứng nhận) diện tích 6.900m²; từ khoảng năm 2012, gia đình ông H không ở thường xuyên trên phần đất, mà cho nhiều người thuê; ông B là người cặp ranh đất ông H, đã chiếm đất theo đo đạc thực tế diện tích 1.219,7m², ông Trần Văn D (con ruột ông H) được Sở T3 cấp Giấy chứng nhận ngày 10/02/2020 (diện tích được cấp 1265,0m²).
Giấy chứng nhận của ông D được cấp là căn cứ vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 21/01/2020 giữa Trần Văn H với Trần Văn D. Nội dung Hợp đồng: ông H sang bán cho ông D 1265,0m², giá 10 triệu đồng. Trên thực tế ông H không hề biết về hợp đồng, chữ ký tên trong hợp đồng không phải chữ ký của ông H.
Ông H khởi kiện, yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng thiết lập ngày 21/01/2020 với ông D, buộc ông D trả lại diện tích đất 1.265,0m².
Ngoài ra, tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện diện tích 1.635m² (theo đo đạc thực tế 1.557,9m²) đã được giải quyết bằng Bản án số 165/2023/DS-ST ngày 27/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi; khi có kết quả giám đốc thẩm ông H sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
* Quá trình giải quyết vụ án ông Trần Văn D trình bày:
Đối với diện tích đất 1.265,0m² là đất của ông B đã quản lý, sử dụng trên 40 năm, ông D đào ao nuôi tôm công nghiệp, thời điểm năm 2020 ông Trần Văn B làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận thì phát hiện diện tích đất nằm trong Giấy chứng nhận của ông H. Gia đình ông đã liên hệ cán bộ Văn phòng Đ1, ông H xác định ranh và ký hộ giáp ranh, sau đó ông D đã được cấp Giấy chứng nhận, ông D không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông H về hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với ông D, vì Hợp đồng là căn cứ để cấp Giấy chứng nhận cho ông D.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 284/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi đã quyết định:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H về việc yêu cầu ông Trần Văn D trả lại phần đất theo đo đạc 1.577,9m² tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Văn H về việc hủy Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Trần Văn H với ông Trần Văn D thiết lập ngày 21/01/2020 và yêu cầu ông D trả lại diện tích đất theo đo đạc 1.219,7m².
(kèm theo mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 18/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ)
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 20/9/2024, ông Trần Văn H kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông về việc yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/0/2020 giữa ông và ông Trần Văn D; buộc ông D trả lại phần đất diện tích 1.265m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện hợp pháp của nguyên đơn, ông T trình bày:
Ông Tấn A cán bộ địa chính xã là cháu bà con của ông H, cho nên khi Tấn A mượn Giấy chứng nhận của ông H nói là để điều chỉnh ranh đất, nên ông H đã giao Giấy chứng nhận, nhưng Tấn A lợi dụng lòng tin của ông H đã lập Hợp đồng chuyển nhượng đất, ông H không ký tên vào Hợp đồng, đến khi ông H cho T thuê đất thì ông T mới phát hiện ông D lấn chiếm hết toàn bộ mặt tiền phần đất của ông H, dẫn đến phần đất của ông H không có lối đi (bởi vì hậu đất giáp Sông B cũng bị gia đình ông D chiếm không còn lối đi). Do đó, đại diện nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Yêu cầu chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, hủy Hợp đồng chuyển nhượng đất, buộc ông D giao trả lại phần đất tranh chấp cho ông H, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Trần Văn D. Bởi lẽ: Hợp đồng chuyển nhượng đất vô hiệu từ thời điểm xác lập; qua xác minh nhân chứng thể hiện ông H được UBND xã cấp 10.000m² đất, ông H đã được cấp Giấy chứng nhận từ năm 1995, trong khi ông B đến năm 2020 mới được cấp Giấy chứng nhận thì không có việc chồng lấn trong cấp Giấy; ông H quản lý sử dụng cả thửa đất của ông nuôi tôm, đến năm 2021 mới cho người khác thuê đất, hiện tại phần đất tranh chấp là lối đi duy nhất của ông H.
- Bị đơn, ông Trần Văn D trình bày: Phần đất tranh chấp, ông B quản lý, sử dụng từ 40 năm qua, đến năm 2020 làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận thì phát hiện đất nằm trong Giấy chứng nhận đứng tên ông H, cho nên cơ quan chuyên môn của xã T lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với ông D nhằm hợp thức hóa cho việc cấp Giấy chứng nhận cho ông D, chữ ký tên trong Hợp đồng ông D cũng không biết có phải là ông D ký hay không.
· Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Nguyên đơn yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Hợp đồng này là hợp thức hóa để cấp Giấy chứng nhận cho ông D (do có chồng lấn trong cấp Giấy); ông B, ông D được hướng dẫn thì thực hiện chứ không biết được quy định của pháp luật; cơ quan chuyên môn của xã có sai, nhưng bản chất là ông D được cấp Giấy chứng nhận trên thửa đất mà gia đình ông D quản lý, sử dụng ổn định, cho nên không cần thiết phải hủy Hợp đồng chuyển nhượng đất.
Ông H kiện yêu cầu ông D trả lại diện tích đất theo đo đạc thực tế 1.219,7m², đây là tranh chấp quyền sử dụng đất thì phải áp dụng pháp luật về tranh chấp QSD đất, do đó không đặt ra xem xét trong vụ án này; bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, bởi vì xét về nguồn gốc đất, về quá trình quản lý sử dụng đất thì ông D được cấp Giấy chứng nhận là đúng.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn B trình bày:
Kháng cáo của ông H không có căn cứ, đất được cấp không phải ai cũng được cấp diện tích giống nhau, mà việc cấp Giấy chứng nhận là căn cứ vào nguồn gốc đất, quá trình quản lý, sử dụng đất.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng đất vô hiệu, buộc ông D trả lại cho ông H diện tích đất đo đạc thực tế 1.219,7m²; ông H được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu cấp Giấy chứng nhận theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng.
[1] Đơn kháng cáo của ông Trần Văn H nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Ông Trần Văn B và bà Cao Thị Hồng N1 xin vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với ông B và bà N1.
[2] Phần đất tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế 1.219,7m² tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ được Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn D ngày 10/02/2020 (diện tích trong Giấy chứng nhận 1265,0m², đất nuôi trồng thủy sản).
[3] Xét kháng cáo, ông H yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 21/01/2020, buộc ông D trả lại phần đất diện tích đo đạc thực tế 1.219,7m²
Đối với kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp và hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 21/01/2020 giữa ông Trần Văn H với ông Trần Văn D (viết tắt Hợp đồng chuyển nhượng đất): Trên thực tế không có sự kiện sang nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với ông D, mà Hợp đồng chuyển nhượng đất được thiết lập nhằm mục đích hợp thức hóa cho việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất đứng tên Trần Văn D, được ông Tấn A là cán bộ địa chính xã T và ông D thừa nhận; bản thân ông D có ký tên vào Hợp đồng hay không ông cũng không nhớ chính xác; phía ông H trình bày không biết gì về Hợp đồng chuyển nhượng đất, ông H khẳng định không ký tên vào Hợp đồng.
Khi làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận, ông D kê khai đất có nguồn gốc của ông Trần Văn B (cha ông D) quản lý, canh tác khoảng 40 năm qua; đáng lẽ ra, cơ quan chuyên môn phải xác minh nguồn gốc đất, quá trình quản lý sử dụng đất của hai bên đương sự, để xem xét ông D có đủ điều kiện được cấp quyền sử dụng theo quy định của Luật đất đai hay không, chứ không thể hợp thức hóa bằng một hợp đồng sang nhượng đất trong khi chính cơ quan chuyên môn xác nhận phần đất cấp cho ông D nằm trong Giấy chứng nhận của ông H.
Qua xem xét tài liệu trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Năm 1983, cụ Trần Văn C (tên gọi khác N2, là cha ông H) công tác tại địa phương, cho nên được UBND xã cấp 10.000m² đất; ngày 18/4/1995, UBND huyện Đ có Quyết định về việc thành lập Hội đồng xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở xã T, Quyết định cấp đất có danh sách kèm theo, theo đó ông Trần Văn H được cấp 6.900m²; tuy nhiên, thành viên của Hội đồng cấp đất có ông Tạ Hữu T1 (thời điểm năm 1995 là Chủ tịch UBND xã T, Chủ tịch Hội đồng), ông Nguyễn Văn T2 (thời điểm năm 1995 là cán bộ quản lý ruộng đất xã, Ủy viên thư ký) xác nhận hộ ông H được cấp 01 dây đất là 10.000m² có vị trí chiều ngang giáp lộ, là phù hợp với lời khai của nguyên đơn, phù hợp với tài liệu khác, được thể hiện:
- thể hiện tại Giấy chứng nhận cấp cho ông Trần Văn H năm 1995, phần đất của ông H thuộc thửa 127, Giấy chứng nhận có vẽ hình thể thửa đất thể hiện mặt tiền giáp thửa 129, một cạnh hướng Đông giáp thửa 128.
Nhằm để xác định thửa 128 giáp đất ông H ai là người sử dụng, thì theo như Sổ mục kê ruộng đất năm 1995 và Trích lục bản đồ năm 1995 thì thửa 128 ghi tên Bé, còn thửa 129 ghi tên Hoàng Ngọc H1 (cha của Hoàng Văn H2), hiện tại phần đất ông H2 giáp mặt tiền đất ông H (cách con lộ xi măng 1,5m). Như vậy, theo tài liệu năm 1995 thì mặt tiền đất giáp lộ là đất ông H được cấp, mặt tiền không giáp đất ông B.
- tại Sổ mục kê đất đai năm 2006 và Trích lục bản đồ năm 2006, thì diện tích đất của ông H là 10.201,4m² + 546,6m² thuộc thửa 119, 137; mặt tiền giáp Sông tự nhiên (tức là Lộ xi măng hiện tại), một cạnh hướng Đông đất ông H giáp với thửa 126. Nhưng Sổ mục kê đất đai năm 2006, thể hiện thửa 126 do UBND xã quản lý, chứ không còn tồn tại thửa 128 ghi tên Bé như tài liệu năm 1995. Như vậy, tài liệu năm 2006 thể hiện phần đất thửa 126 là cạnh hướng Đông giáp đất ông H là phần đất thuộc UBND xã quản lý.
- tại Sổ mục kê đất đai năm 2012 và Trích lục bản đồ năm 2012, thì diện tích đất của ông H thể hiện đúng như tài liệu năm 2006, đó là 10.201,4m² thửa 119 và 546,6m² thuộc 137; mặt tiền giáp Sông tự nhiên (tức là Lộ xi măng hiện tại), một cạnh hướng Đông giáp thửa 126. Sổ mục kê đất đai năm 2012, thể hiện thửa 126 cũng do UBND xã T quản lý.
Với dữ liệu trên, lời trình bày của ông D cho rằng ông B quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp 40 năm qua là không có cơ sở; bởi vì Sổ mục kê và Bản đồ địa chính năm 2006 và năm 2012 thể hiện thửa 126 giáp ranh thửa đất ông H vẫn do UBND xã T quản lý; từ đó cho thấy phần đất tranh chấp là mặt tiền đất của ông H thì không thể có việc ông B sử dụng từ 40 năm qua, bởi vì hiện trạng là một cái đìa, độ sâu khoảng 1,4m (không có nước), ngoài ra không có công trình hay cây trồng gì trên đất; trên thực tế những người cất nhà ở nhờ sau hậu đất của ông H (có 03 căn nhà) cũng như người thuê đất hiện tại chỉ có lối đi là đi trên phần đất đang tranh chấp.
Qua xem xét thực tế hiện trạng sử dụng đất thể hiện: toàn bộ diện tích ở hậu đất của ông H thì gia đình ông D đã ngăn bờ, ông H không có lối đi ở hậu đất; đối với mặt tiền giáp lộ xi măng, theo như Giấy chứng nhận của ông H cấp năm 1995 thì thể hiện hình thể thửa đất số 127 có chiều dài từ tiền đến hậu (chỉ hẹp một đoạn thuộc thửa 137 ở hậu đất giáp Sông B), tức là thửa đất của ông H giáp lộ xi măng kéo dài đến hậu đất; và chiều ngang mặt tiền của thửa đất khoảng 75m, nhưng ông D đã cất nhà một bên đất có chiều ngang 40,44m (phần diện tích đất này ông H đang khiếu nại theo thủ tục Giám đốc thẩm), còn lại chiều ngang 35,55m đang tranh chấp, nếu như đất tranh chấp thuộc về ông D thì ông H ở chính giữa thửa đất, không có lối đi.
Tóm lại, ông H chứng minh được nguồn gốc đất Nhà nước cấp cho cụ N2, cụ N2 cho con và ông H đã được cấp Giấy chứng nhận từ năm 1995; ông B không đưa ra căn cứ nào chứng minh nguồn gốc đất ông được cấp 20.000m², đồng thời cũng không có cơ sở pháp lý nào xác định ông B quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp khoảng 40 năm qua; theo như các nhân chứng là người trong Hội đồng xét duyệt cấp đất thì ông B được xét cấp 10.000m², nhưng hiện tại ông B và ông D đứng tên Giấy chứng nhận khoảng 16.000m² đất. Ông H là người được Nhà nước công nhận QSD đất từ năm 1995, trong khi ông B chưa được cấp Giấy chứng nhận, nhưng cơ quan tham mưu của UBND xã T hợp thức hóa bằng cách lập Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất để làm căn cứ cấp Giấy chứng nhận cho ông D vào năm 2020 là không phản ánh đúng bản chất của quá trình quản lý, sử dụng đất; mục đích thiết lập Hợp đồng chuyển nhượng đất là để hợp thức hóa cho việc cấp Giấy chứng nhận. Theo quy định tại Điều 122, 123 và 124 của Bộ luật dân sự, giao dịch dân sự này là giả tạo; do đó, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 21/01/2020 giữa ông Trần Văn H với ông Trần Văn D vô hiệu do giả tạo.
Tại khoản 2 Điều 131 Bộ luật dân sự quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Tuy nhiên, không có việc sang nhượng nên không có giao nhận tài sản; nhưng sau khi thiết lập Hợp đồng chuyển nhượng đất thì ông D được cấp Giấy chứng nhận và theo ông D trình bày thì diện tích đất tranh chấp do ông D quản lý, cho nên buộc ông D giao trả cho ông H phần đất đo đạc thực tế 1.219,7m² (vị trí tiếp giáp được thể hiện ở Mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 18/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ).
[4] Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 300322 ngày 10/02/2020 đứng tên ông Trần Văn D được cấp với diện tích 1265,0m² thuộc thửa đất số 223, tờ bản đồ số 14 tọa lạc ấp T, xã T, huyện Đ; căn cứ để cấp Giấy chứng nhận không đúng quy định tại Điều 99, 100 Luật đất đai năm 2013; do căn cứ để cấp Giấy chứng nhận là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 21/01/2020 giữa ông Trần Văn H với ông Trần Văn D đã bị vô hiệu, không có hiệu lực pháp luật, cho nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Văn D là phù hợp với quy định tại Điều 34 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Do Giấy chứng nhận của ông H có đăng ký biến động đối với phần đất tranh chấp, nên ông H có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh Giấy chứng nhận.
[5] Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn cung cấp tài liệu được thu thập tại Trung tâm T3; và những chứng cứ cấp phúc thẩm xác minh thu thập. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn H; sửa bản án dân sự sơ thẩm số 284/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
[6] Đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa và yêu cầu của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H được chấp nhận. Yêu cầu của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D và ông B không được chấp nhận với những căn cứ nhận định trên.
[7] Do sửa án sơ thẩm, nên sửa về án phí và chi phí tố tụng
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: 1.219,7m² đất NTS x 98.000đ/m2 x 5% = 5.976.000đ (làm tròn số). Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự, ông D phải chịu.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 3.443.000đ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ Luật tố tụng dân sự, ông D phải chịu; ông H đã nộp đủ nên ông D phải hoàn trả lại cho ông H. Trường hợp chậm thanh toán phải chịu lãi suất theo quy định.
- Án phí phúc thẩm ông H không phải chịu.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn H; sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 284/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H về việc yêu cầu ông Trần Văn D trả lại phần đất theo đo đạc 1.577,9m² tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Phần đất có các phía tiếp giáp:
- - Phía đông giáp đất ông Trần Văn B (đã giải quyết theo Bản án số 165).
- - Phía tây giáp đất bà Ngô Mỹ D1.
- - Phía nam giáp đất ông Trần Văn H.
- - Phía bắc giáp lộ bê tông.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Văn H:
- - Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn H với ông Trần Văn D thiết lập ngày 21/01/2020 là vô hiệu.
- - Buộc ông Trần Văn D trả lại cho ông Trần Văn H diện tích đất theo đo đạc thực tế 1.219,7m² tọa lạc ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau, thể hiện ở các điểm M3M4M5M6 tại Mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 18/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ.
Phần đất có tứ cận tiếp giáp:
- Phía đông giáp đất ông Trần Văn B.
- Phía tây giáp đất ông Trần Văn B (đã giải quyết theo Bản án số 165).
- Phía nam giáp đất ông Trần Văn H.
- Phía bắc giáp lộ bê tông.
(Kèm theo Mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 18/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ).
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 300322 cấp ngày 10/02/2020 đứng tên ông Trần Văn D, diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1265,0m², đất nuôi trồng thủy sản, thuộc thửa số 223, tờ bản đồ số 14, tọa lạc ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Ông Trần Văn H có quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh hoặc xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về án phí và chi phí tố tụng
- 3.1- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, ông Trần Văn D phải chịu 5.976.000 đồng.
- 3.2- Án phí phúc thẩm, ông Trần Văn H không phải chịu.
- 3.3- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Trần Văn D phải hoàn trả lại cho ông Trần Văn H 3.443.000 đồng.
Trường hợp ông D chậm thanh toán phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiền |
Bản án số 167/2025/DS-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 167/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông H khởi kiện, yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng thiết lập ngày 21/01/2020 với ông D, buộc ông D trả lại diện tích đất 1.265,0m2. Ông Trần Văn D không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông H về hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với ông D, vì Hợp đồng là căn cứ để cấp Giấy chứng nhận cho ông D. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Văn H. Cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Văn H
