TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 167/2025/HS-ST Ngày 26-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Long;
- Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Công Danh;
- Bà Thiều Thị Phi Loan.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Doãn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 114/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Lương Ngọc V (tên gọi khác: B), sinh năm 1985 tại Ninh Thuận; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nơi cư trú: Tổ C, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Lương Thị Ngọc Á, không rõ cha; chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số: 2243/LTG-ĐCSMT ngày 08/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (Có mặt).
2. Nguyễn Chu T, sinh năm 1993 tại Hậu Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: 156D, tổ C, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị Hồng H; chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị D (không đăng ký kết hôn), có 01 con sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số: 2244/LTG-ĐCSMT ngày 08/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Ngọc V và Nguyễn Chu T là người sử dụng trái phép ma túy tổng hợp (hàng đá). Để có tiền mua ma túy sử dụng, từ ngày 24/10/2024 đến ngày 29/10/2024, V đã 03 lần đi đến khu vực bãi đất trống thuộc khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua của người đàn ông tên N (không rõ lai lịch) mỗi lần 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá từ 450.000 đồng/gói đến 950.000 đồng/ gói. Sau đó, V mang ma túy về nơi ở của V tại địa chỉ tổ C, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để lấy một phần ma túy sử dụng, phần còn lại V chia thành nhiều gói nhỏ để bán cho người khác. Cách thức mua bán ma túy: Đối tượng mua ma túy liên hệ qua điện thoại với V hỏi mua ma túy rồi trực tiếp đến nơi ở của V địa chỉ nêu trên để thực hiện hành vi mua bán. Với cách thức trên, từ ngày 25/10/2024 đến ngày 01/11/2024, V đã 07 lần bán ma túy cho Nguyễn Chu T, cụ thể:
- Lần 1 và lần 2: Vào khoảng 12 giờ 05 phút và khoảng 21 giờ 10 phút ngày 25/10/2024, V đã 02 lần bán cho Nguyễn Chu T mỗi lần 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000 đồng/gói.
- Lần 3: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/10/2024, V đã bán cho T 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000 đồng/gói.
- Lần 4: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 28/10/2024, V đã bán cho T 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000 đồng/gói.
- Lần 5: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/10/2024, V đã bán cho T 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000 đồng/gói.
- Lần 6: Vào khoảng 17 giờ 10 phút ngày 31/10/2024, V đã bán cho T 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000 đồng.
- Lần 7: Vào khoảng 01 giờ 10 phút ngày 01/11/2024, V đã bán cho T 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000 đồng.
Vào khoảng 01 giờ 12 phút cùng ngày, T cất giấu gói ma túy vừa mua nêu trên trong túi quần phía trước bên trái T đang mặc và điều khiển xe mô tô biển số 60AM-088.94 đi đến đoạn đường hẻm thuộc tổ C, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang.
Khoảng 11 giờ 25 phút cùng ngày, tại nơi ở của V địa chỉ nêu trên, V đang cất giấu 05 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) trên kệ trong phòng bếp với mục đích để bán cho người khác thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B phối hợp với Công an phường T phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng vụ án:
- 01 gói nilon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng (niêm phong gửi giám định, ký hiệu M1) thu giữ của Nguyễn Chu T;
- 05 gói nilon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng (niêm phong gửi giám định, ký hiệu M2) thu giữ của Lương Ngọc V;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6, màu đen, số imei: 352812106546775 và 01 cân tiểu ly của Lương Ngọc V;
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO loại A37fw, màu đen, số imei 1: 866346039654892, số imei 2: 866346039654884 của Nguyễn Chu T;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Kawasaki, số máy: RPKFM1P39FMB00017576, số khung: RPKDCB1PKAH007576, biển số 60AM-008.94 của Nguyễn Chu T.
Tại Bản kết luận giám định số: 2213/KL-KTHS ngày 08/11/2024, Giám định viên Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận:
- Chất màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,147gam, loại Methamphetamine.
- Chất màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,148gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số: 163/CT-VKSBH-HS ngày 20/02/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố Lương Ngọc V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Chu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lương Ngọc V từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Chu T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 2213/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
- + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6, màu đen, số imei: 352812106546775; 01 cân tiểu ly; 01 điện thoại di động hiệu OPPO loại A37fw, màu đen, số imei 1: 866346039654892, số imei 2: 866346039654884; 01 xe mô tô nhãn hiệu Kawasaki, số máy: RPKFM1P39FMB00017576, số khung: RPKDCB1PKAH007576, biển số 60AM-008.94.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, không bào chữa và tranh luận gì; không có ý kiến hay khiếu nại đối với Kết luận giám định số: 2213/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ và hợp lệ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tội danh và hình phạt:
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Từ ngày 25/10/2024 đến ngày 01/11/2024 tại nơi ở của Lương Ngọc V, địa chỉ tổ C, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, V đã 07 lần mỗi lần bán trái phép 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) cho Nguyễn Chu T với giá 200.000 đồng/gói. Vào khoảng 11 giờ 25 phút ngày 01/11/2024, tại nơi ở của V địa chỉ nêu trên, V đang cất giấu 1,148gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để bán cho người khác thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B phối hợp với Công an phường T phát hiện bắt quả tang.
Vào khoảng 01 giờ 12 phút ngày 01/11/2024, tại đoạn đường H, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Chu T có hành vi tàng trữ trái phép 0,147gam ma túy loại Methamphetamine thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Các bị cáo là người trưởng thành, có đủ nhận thức được tác hại của ma túy và những quy định cấm của pháp luật với mọi hành vi phạm tội về ma túy nhưng vẫn cố ý mua bán và tàng trữ trái phép. Vì vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lương Ngọc V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Chu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác, ảnh hưởng đến trật tự trị an nên Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định trên, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[3] Về vật chứng:
- Khối lượng ma tuý còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 2213/KL-KTHS cấm tàng trữ, mua bán nên tịch thu tiêu hủy;
- Điện thoại di động hiệu S J6, màu đen, số imei: 352812106546775 và 01 cân tiểu ly Lương Ngọc V sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
- Điện thoại di động hiệu OPPO loại A37fw, màu đen, số imei 1: 866346039654892, số imei 2: 866346039654884 Nguyễn Chu T sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Kawasaki, số máy: RPKFM1P39FMB00017576, số khung: RPKDCB1PKAH007576, biển số 60AM-008.94 Nguyễn Chu T sử dụng để đi mua ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[4] Đối với người đàn ông tên N (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) có hành vi bán ma túy cho V, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
[5] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử xử phạt mức hình phạt của bị cáo T thấp hơn đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố: Bị cáo Lương Ngọc V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lương Ngọc V 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2024.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chu T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 2213/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6, màu đen, số imei: 352812106546775; 01 cân tiểu ly; 01 điện thoại di động hiệu OPPO loại A37fw, màu đen, số imei 1: 866346039654892, số imei 2: 866346039654884; 01 xe mô tô nhãn hiệu Kawasaki, số máy: RPKFM1P39FMB00017576, số khung: RPKDCB1PKAH007576, biển số 60AM-008.94.
(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lương Ngọc V và Nguyễn Chu T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Hoàng Long |
Bản án số 167/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự (mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 167/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lương Ngọc V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Chu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
