|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 167/2024/HS-ST Ngày 29-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùng
Ông Đặng Công Tâm
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 124/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lương Quốc T (Tên gọi khác: L), sinh ngày 05/07/1995 tại Bình Định; Nơi ĐKTT: Thôn M, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chổ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Bá X, sinh năm 1967 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1969; gia đình có 04 anh chị em bị cáo là con út. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 38/2013/HS-ST ngày 12/4/2013 của Toà án nhân dân TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử phạt Lương Quốc T 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sử đổi, bổ sung năm 2009. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/12/2013.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lương Quốc T: Bà Trần Thị T1, sinh năm: 1969 (là mẹ) và ông Lương Bá X, sinh năm 1967 (là cha); Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, bà T1 vắng mặt, ông X có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lương Quốc T: Bà Lê Lan H – Luật sư Công ty L1. Địa chỉ: C L, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
Người bị hại: Anh Nguyễn Đình Anh T2, sinh năm: 2001. Nơi thường trú: K L, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Nơi ở hiện tại: K T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Văn Bá C, sinh năm: 1990. Địa chỉ: C L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ 15 phút ngày 23/05/2024, Lương Quốc T đi bộ đến nhà trọ K T, phường H, quận H, TP . thì phát hiện cửa cổng không khoá, T mở cửa đi lên tầng 02, thấy phòng trọ số 09 cửa khép hờ, T vào lấy 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh rêu của anh Nguyễn Đình Anh T2 đang nằm ngủ trong phòng. Sau đó, T đem điện thoại trộm được đến cửa hàng M (địa chỉ: C L, phường H, quận C, TP .) bán cho anh Văn Bá C giá 300.000 đồng, T tiêu xài cá nhân hết số tiền trên. Anh T2 phát hiện mất điện thoại nên đến Công an phường H, quận H trình báo sự việc.
- Lương Quốc T giao nộp:
- + 01 Áo thun có cổ màu xanh, 01 quần Jean dài màu xanh, 01 đôi dép lê màu xám có chữ adidas của T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp.
- + 01 Giấy ra viện của Lương Quốc T được chẩn đoán: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất gây ảo giác (Rối loạn tâm thần F16.5).
- Nguyễn Đình Anh T2 giao nộp: 01 Đĩa CD chứa 01 đoạn video có độ dài 33 giây, ghi nhận hình ảnh T đột nhập vào K đường T trộm cắp tài sản.
- Văn Bá C giao nộp: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xanh rêu, tình trạng bị vỡ màn hình, màn hình bị bung khỏi thân máy, không lên nguồn.
Theo Kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 06/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận H, kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh rêu, dung lượng 256GB, số Imei 353891104602987, đã qua sử dụng trị giá 3.760.000 đồng.
Ngày 23/7/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu yêu cầu Cơ quan điều tra xác định giá trị thực tế điện thoại đã thu giữ theo Công văn trao đổi việc giải quyết tin báo số 181.
Theo Kết luận định giá tài sản số 74/KL-HĐĐGTS ngày 30/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận H, kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh rêu, dung lượng 256GB, số Imei 353891104602987, đã qua sử dụng trị giá 2.090.000 đồng. Kết luận định giá này thay thế Kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 06/6/2024, của của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận H.
Theo kết luận giám định số 1222/KL-GĐ ngày 18/7/2024 của Trung tâm pháp y Tâm thần khu vực miền T, kết luận:
- + Trước thời điểm gây án:
- Kết luận về y học: Rối loạn tâm thần và hành vi khác do sử dụng chất tác động tâm thần khác (XLR-11) (F19.8).
- Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
- + Tại thời điểm gây án:
- Kết luận về y học: Rối loạn tâm thần và hành vi khác do sử dụng chất tác động tâm thần khác (XLR-11) (F19.8).
- Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
- + Thời điểm hiện tại:
- Kết luận về y học: Rối loạn tâm thần và hành vi khác do sử dụng chất tác động tâm thần khác (XLR-11) (F19.8).
- Đối tượng cần được điều trị ngoại trú và cách ly ma tuý.
- Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại bản cáo trạng số 127/CT-VKS ngày 09/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lương Quốc T về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lương Quốc T phạm tội "Trộm cắp tài sản". Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lương Quốc T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lương Quốc T phải bồi thường cho anh Nguyễn Đình A T2 số tiền là 1.500.000 đồng và trả lại cho anh Văn Bá C 300.000 đồng.
Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Lương Quốc T thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố và đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh T2 và anh C.
Ông Lương Bá X trình bày: Thống nhất với lời trình bày của Lương Quốc T. Bị cáo bị bệnh về thần kinh nên suy nghĩ không như người bình thường nên dẫn đến có hành vi vi phạm pháp luật, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Người bào chữa cho bị cáo Lương Quốc T trình bày luận cứ bào chữa: Về tội danh, luật sư thống nhất với Viện kiểm sát. Đề nghị HĐXX xem xét khách quan, toàn diện về nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo bị hạn chế năng lực hành vi, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Lương Quốc T nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Khoảng 03 giờ 15 phút ngày 23/5/2024, tại nhà trọ số K đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Lương Quốc T có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh rêu của anh Nguyễn Đình Anh T2, trị giá tài sản chiếm đoạt là 2.090.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Lương Quốc T đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi, thì thấy: Lương Quốc T không có việc làm và không có nơi cư trú ổn định, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã lén lút thực hiện trộm cắp tài sản. Lương Quốc T đã lợi dụng lúc người bị hại thiếu cảnh giác, không khoá cửa nên bị cáo đã thực hiện ý định chiếm đoạt tài sản. Bị cáo đã bị xử phạt tù vào năm 2013 nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục sa vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử phạt cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại thời điểm phạm tội bị cáo là người bị hạn chế năng lực hành vi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
Đối với Văn Bá C không biết điện thoại di động Lương Quốc T đem bán do trộm cắp mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H không đề cập xử lý là có căn cứ.
[5] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lương Quốc T 01 Áo thun có cổ màu xanh, 01 quần Jean dài màu xanh, 01 đôi dép lê màu xám có chữ Adidas, Lương Quốc T không có ý kiến gì nên HĐXX không xem xét.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Nguyễn Đình Anh T2: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xanh rêu, tình trạng bị vỡ màn hình, màn hình bị bung khỏi thân máy, không lên nguồn. Anh Nguyễn Đình Anh T2 yêu cầu Lương Quốc T bồi thường 1.500.000 đồng tiền sửa chữa điện thoại bị hư hỏng, bị cáo T đồng ý trả lại bồi thường cho anh T2 là nên HĐXX buộc bị cáo phải bồi thường cho anh T2 số tiền này.
Đối với anh Văn Bá C yêu cầu Lương Quốc T hoàn trả số tiền mua điện thoại là 300.000 đồng, bị cáo T đồng ý trả lại số tiền này cho anh C là nên HĐXX buộc bị cáo phải bồi thường cho anh C số tiền này.
Xét những đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tại phiên tòa hôm nay là có cơ sở, HĐXX chấp nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lương Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lương Quốc T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 14/8/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584; Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự;
Xử: Buộc Lương Quốc T có nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Đình A T2 số tiền là 1.500.000 đồng và bồi thường cho anh Văn Bá C số tiền 300.000 đồng.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người có nghĩa vụ thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Lương Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Lương Quốc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Phương Thảo |
Bản án số 167/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 167/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Quốc T "Trộm cắp tài sản"
