Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 167/2024/HSST

Ngày 28 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

.TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạnh Xuân Hải.
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Quốc Phòng và ông Nguyễn Xuân Tung;
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 156/2024/HSST ngày 05 tháng 11 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, đối với:

1/ Các bị cáo:

  • - Nguyễn Văn N (tên gọi khác: Không), sinh năm 1998; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 26/7/2024 đến ngày 04/8/2024 chuyển sang tạm giam, đến ngày 16/8/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại tại địa phương; có mặt.
  • - Nguyễn Văn T1 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 (đã chết) và bà Bùi Thị L; vợ: Lương Thị S; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 08/7/2020, bị TAND thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS (đã được xóa án tích); bị tạm giữ 09 ngày (từ ngày 26/7/2024, đến ngày 04/8/2024) được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2/ Bị hại: Cháu Lương Xuân T3, sinh ngày 25/12/2020 (đã chết). Đại diện theo pháp luật: Anh Lương Đại H1, sinh năm 1988 và chị Quách Thị T4, sinh năm 1981; cùng nơi cư trú: Thôn L, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; đều vắng mặt.

3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt.
  • + Anh Lê Văn B, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

4/ Người làm chứng: Cháu Lương Thị Mai L1, sinh ngày 18/9/2012. Người đại diện theo pháp luật: Anh Lương Đại H1, sinh năm 1988 và chị Quách Thị T4, sinh năm 1981; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1982, thuê Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984 (có giấy phép lái xe ô tô hạng E) làm lái xe và Nguyễn Văn N sinh năm 1998 (có giấy phép lái xe ô tô hạng C) làm phụ xe cho chiếc xe xe ô tô khách loại 29 chỗ ngồi, BKS 90B-006.23 để chở khách theo tuyến Hưng Yên – Hòa Bình.

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 25/7/2024, T1 điều khiển xe ô tô khách BKS 90B-006.23 chở N đi đón khách từ bến xe tỉnh H đến bến xe T, tỉnh Hòa Bình. Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe ô tô BKS 90B-006.23 chở khách từ bến xe T về Hà Nam; khoảng 16 giờ cùng ngày, xe ô tô khách về đến đoạn đường quốc lộ 38, trước cửa siêu thị L2 thuộc phường Đ, thị xã D, T1 dừng xe cho khách xuống rồi đi xuống ngồi ở vị trí ghế hành khách. Còn N xuống xe lấy hành lý trả cho khách xong thì đi lên ngồi vào vị trí ghế lái. Mặc dù, biết rõ N có giấy phép lái xe hạng C, chỉ được phép điều khiển xe ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống, không đủ điều kiện điều khiển xe ô tô loại 29 chỗ ngồi nhưng T1 vẫn giao xe ô tô cho N điều khiển xe đi về. Khi về đến đoạn đường gần Ngân hàng chính sách thị xã D thuộc phường H, thị xã D, T1 nói với N “Cho anh xuống quán nước” nên N cho xe ô tô BKS 90B-00623 dừng lại, T1 xuống xe vào quán nước ngay cạnh Ngân hàng chính sách ngồi uống nước, để cho N một mình điều khiển xe ô tô BKS 90B-006.23 đi trả khách. Trên xe ô tô lúc này chỉ còn chị Quách Thị T4, sinh năm 1981, cư trú tại thôn L, xã M, thị xã D và 03 con của chị T4 là cháu Lương Thị Mai L1, sinh năm 2012; cháu Lương Gia H2, sinh năm 2017, cháu Lương Xuân T3, sinh năm 2020 nên N tiếp tục điều khiển xe ô tô chở mẹ con chị T4 đi theo đường quốc lộ 38, vòng qua chân cầu Y đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn L, xã M, thị xã D, trước ngõ vào nhà chị T4 thì cho xe ô tô dừng lại, đỗ xe trên phần đường dành cho các phương tiện đi hướng Đền L3 – nút giao vòng xuyến để cho 04 mẹ con chị T4 xuống xe. Chị T4 bế cháu T3, còn cháu L1, cháu H2 tự xuống xe và đứng ở gần cửa lên xuống bên phải xe đợi N lấy đồ trả.

N xuống xe lấy đồ ở cốp phía sau xe để xuống lề đường cạnh vị trí chị T4 đứng rồi đi lên vị trí ghế lái ngồi. Lúc này, chị T4 để cháu T3 đứng xuống lề đường bên phải và xách túi đồ đi về phía đầu ngõ nhà mình, cháu L1 và cháu H2 xách đồ đi phía trước chị T4. N quan sát qua hai gương chiếu hậu không phát hiện có chướng ngại vật gì ở hai bên thành xe. Do phía sau không lắp camera lùi, xe lắp rèm chống nắng che kín kính nên N không quan sát được cháu Lương Xuân T3 đang ở phía sau xe ô tô. Khi N cài số lùi và lùi xe được khoảng 02m thì phần ba đờ sốc phía sau bên phải xe va vào cháu T3 làm cháu T3 ngã úp mặt xuống đường, bánh sau bên phải xe ô tô chèn lên lưng cháu T3. Lúc này, N nghe tiếng “Kịch” và thấy bánh sau bên phải của xe ô tô bị kênh lên thì đạp phanh cho xe dừng lại, đi xuống kiểm tra thì thấy chị T4 bế cháu T3 nằm ở vị trí phía trước của bánh sau bên phải xe ô tô BKS 90B-006.23 lên. Thấy vậy, N điều khiển xe ô tô BKS 90B-006.23 chở chị T4 và cháu T3 đi về quán nước T1 đang ngồi để T1 điều khiển xe ô tô chở chị T4, cháu T3 cùng N đi sang Bệnh viện Đ, tỉnh Hưng Yên cấp cứu. Do cháu Lê Xuân T5 bị thương nặng nên đã tử vong trên đường đi cấp cứu.

Sau khi vụ tai nạn giao thông trên xảy ra, Cơ quan Công an thị xã D đã phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, Trưng cầu giám định tử thi và đo nồng độ cồn và xét nghiệm chất kích thích của lái xe theo quy định của pháp luật.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 565/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Nguyên nhân dẫn đến tử vong của cháu Lương Xuân T3 là: Chấn thương ngực kín (Rách phổi, tràn máu khoang màng phổi).

  • - Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N ngày 25/7/2024 là 0.0mg/L
  • - Kết quả xét nghiệm chất gây nghiện trong nước tiểu, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn N âm tính với các chất ma túy MET- Methamphetamin (Ma túy đá, MOP-Morphine, AMP-Amphetamin. THC-Tetrahydrocannabinol (C).

Vật chứng thu giữ gồm:

  • + T6 của anh Nguyễn Mạnh C: 01 xe ô tô khách loại 29 chỗ nhãn hiệu SAMCO, màu sơn trắng - đỏ; BKS 90B-006.23, số khung R75L97101057, số máy 4HK1757487; 01 đăng kiểm xe ô tô BKS 90B-006.23 số 016214 mang tên Lê Văn Bình sinh năm 1979, địa chỉ D, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 0789732 của xe ô tô BKS 90B-006.23, có hiệu lực đến ngày 17/10/2024; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc của chủ xe ô tô số 0263193 có thời hạn đến ngày 29/4/2025; 02 thẻ nhớ camera gắn trong ca bin xe ô tô BKS 90B-006.23;
  • + Thu của Nguyễn Văn T1: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A15s, màu đen; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng E số 3101270001928, do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 23/10/2019, có giá trị đến ngày 23/10/2024.
  • + Thu của Nguyễn Văn N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy S10+, màu đen; 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Nguyễn Văn N do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp có giá trị đến ngày 12/8/2027.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã xử lý: Trả lại cho anh Nguyễn Mạnh C 01 xe ô tô BKS 90B – 006.23, 01 đăng kiểm xe ô tô BKS 90B-006.23 số 016214 cùng toàn bộ giấy tờ xe. Trả lại bị cáo N 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy S10+, màu đen. Trả lại bị cáo T1 01 giấy phép lái xe ô tô hạng E số 3101270001928, do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 23/10/2019 mang tên Nguyễn Văn T1 và 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A15s, màu đen. Đối với 02 thẻ nhớ camera gắn trong ca bin xe ô tô BKS 90B-006.23 thu của anh Nguyễn Mạnh C là vật chứng liên quan đến vụ án được lưu trong hồ sơ vụ án

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, bị cáo N đã tác động nhờ anh C là chủ xe ô tô BKS 90B – 006.23 đã bồi thường theo thỏa thuận cho gia đình bị hại số tiền 180.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn T1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 157/CT-VKS - DT ngày 03/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố Nguyễn Văn N về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự và Nguyễn Văn T1 về tội "Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểu a khoản 2 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N. Xử phạt Nguyễn Văn N mức án 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Điểm a khoản 1 Điều 264; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 mức án từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Văn T1. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; trách nhiệm dân sự và án phí của vụ án.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn T1 xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt và không tranh luận gì; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những

người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, nên HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 25/7/2024, tại đoạn đường liên thôn thuộc địa phận thôn L, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn N không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, điều khiển xe ô tô khách loại 29 chỗ BKS 90B - 006.23 và lùi xe không đảm bảo an toàn nên đã để bánh xe phía sau bên phải xe ô tô khách chèn qua người cháu Lương Xuân T3 làm cháu T3 bị tử vong.

Nguyễn Văn T1 mặc dù biết rõ Nguyễn Văn N không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng đã giao xe ô tô khách loại 29 chỗ BKS 90B - 006.23 để N điều khiển, gây tai nạn giao thông làm cháu Lương Xuân T3 bị tử vong.

Hành vi điều khiển xe ô tô không có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển, lùi xe không đảm bảo an toàn của Nguyễn Văn N đã vi phạm Điều 16, 58 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng, làm chết 01 người nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện tham gia giao thông của Nguyễn Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Cáo trạng số 157/CT-VKS - DT ngày 03/11/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ pháp lý.

[3] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

  • Về nhân thân: Bị cáo N có nhân thân tốt, bị cáo T1 có nhân thân xấu.
  • Về tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn T1 đều không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
  • Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Nguyễn Văn N sau khi phạm tội đã tác động cùng chủ xe ô tô và cũng là anh họ của bị cáo khắc phục hậu quả bằng việc bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại được đại diện bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Đối chiếu với quy định của pháp luật, bị cáo Nguyễn Văn N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn

T1 được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

4] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ nhận định trên, nhận thấy:

Đối với bị cáo Nguyễn Văn N là người có nhân thân tốt, phạm tội với lỗi vô ý và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy sau khi xem xét mọi mặt, HĐXX xét thấy không cần thiết cho cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cần ấn định mức hình phạt cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền nơi bị cáo cư trú cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T1 mặc dù là người có nhân thân xấu, nhưng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc loại tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, HĐXX cần áp dụng Điều 36 BLHS cho bị cáo cải tạo tại chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành công dân tốt. Ngoài ra, bị cáo còn phải bị khấu trừ một phần thu nhập ở mức nhất định trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự. Điều này cũng phù hợp với quan điểm xử lý các bị cáo của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Từ nhận định trên, căn cứ vào hành vi và các tình tiết của vụ án, HĐXX xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn N và khoản 4 Điều 264 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn T1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án, gia đình người bị hại đã nhận số tiền 180.000.000 đồng do bị cáo N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bồi thường. Tại phiên tòa không ai có ý kiến gì nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng, tài liệu thu giữ: Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C số: [...] mang tên Nguyễn Văn N do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp có giá trị đến ngày 12/8/2027. Qua đấu tranh xác định đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên HĐXX cần trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đương sự trong vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự:

  • - Căn cứ: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn N.
  • - Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 264; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn T1.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn N 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/11/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Văn N cho Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

  • - Bị cáo Nguyễn Văn T1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ đi 09 (chín) ngày đã tạm giữ, được quy đổi (09 tạm giữ x3) = 27 ngày. Nay bị cáo còn phải chấp hành 08 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam nhận được quyết định thi hành án thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam trong việc giám sát giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

* Áp dụng khản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự: Khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo Nguyễn Văn T1 trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, mỗi tháng 500.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Nguyễn Văn N 01 giấy phép lái xe hạng C số: [...] mang tên Nguyễn Văn N do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp có giá trị đến ngày 12/8/2027.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Báo cho các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người đại diện của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Công an thị xã Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Mạnh Xuân Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về hình sự sơ thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 167/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Nam phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger