|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 167/2024/HSST Ngày: 18-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Luật và bà Nguyễn Thị Liệu.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại Phòng xét xử B - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 205/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Đức S, sinh năm 1991 tại Đồng Nai (có mặt)
Nơi cư trú: tổ E, ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Phi H, sinh năm 1962 và bà Đỗ Thị D, sinh năm 1965; anh chị em ruột 05 người, bị cáo là con thứ 2, vợ Đinh Thị Thu H1, sinh năm 1994 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Về nhân thân:
- Tại Bản án số 133/2015/HSST ngày 09/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, xử phạt Vũ Đức S 04 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/12/2015. Nộp án phí Hình sự sơ thẩm tháng 1/2016.
Đầu thú ngày 06/8/2024, được khởi tố tại ngoại và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 09/8/2024.
Bị hại: Ông Nguyễn Bảo N, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Đức S có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Tiến D1. D1 là anh vợ và ở sát nhà của anh Nguyễn Bảo N. Do biết nhà anh N có cây mai cảnh trồng trong chậu nên D1 nảy sinh ý định trộm cắp cây mai của anh N bán lấy tiền tiêu xài.
Vào khoảng 22 giờ ngày 12/01/2024, D1 gọi điện thoại cho S rủ cùng trộm cắp cây mai thì S đồng ý. Sau đó, S điều khiển xe mô tô hiệu Dream (không rõ biển số, xe Sĩ mượn của bạn tên L, không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà D1 để bàn bạc cách trộm cây mai của anh N.
Khoảng 01 giờ 18 phúy ngày 13/01/2024, D1 và S đột nhập vào nhà anh N rồi cùng nhau nhổ cây mai ra khỏi chậu. Sau đó, D1 và S lấy 01 xe lôi 02 bánh tự chế của anh N để trong sân nhà rồi đưa cây mai lên xe để S dùng xe mô tô kéo xe lôi và cây mai về nhà S và trồng ở trước sân nhà. Đến sáng cùng ngày, D1 đến nhà S lấy xe lôi mang đi bán và chia cho Sĩ số tiền 600.000 đồng còn S mang xe mô tô hiệu Dream đem đi trả cho bạn.
Toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Tiến D1 và Vũ Đức S đã được Camera anh ninh của gia đình anh Nguyễn Bảo N quay lại. Qua trình báo của anh N và rà soát địa bàn, đối tượng, Công an thị trấn Đ đã tiến hành thu giữ cây mai được trồng ở sân nhà Vũ Đức S.
Sau khi trộm cắp tài sản, D1 và S bỏ đi khỏi nơi cư trú. Đến ngày 06/8/2024, Vũ Đức S đến Công an huyện Đ đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân còn Nguyễn Tiến D1 vẫn đang bỏ đi khỏi nơi cư trú, chưa tiến hành làm việc được.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ, Vũ Đức S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Tài sản thiệt hại:
- - 01 cây mai vàng, hoành gốc 55cm, cao 02 mét;
- - 01 xe lôi 02 bánh tự chế.
Trị giá tài sản thiệt hại: Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, kết luận: Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 12.900.000 đồng.
Theo cáo trạng số 327/CT-VKSÐQ ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Vũ Đức S về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự,. Xử phạt bị cáo S mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng về tội “ Tội trộm cắp tài sản”..
Về vật chứng vụ án:
- + Đối với cây mai vàng, hoành gốc 55cm, cao 02 mét thuộc sở hữu của anh Nguyễn Bảo N. Hiện đã trao trả cho anh N. Buộc Vũ Đức S phải bồi thường thiệt hại tài sản cho anh N với số tiền 1.900.000đồng.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh: Khoảng 01 giờ 18 phút ngày 13/01/2024, tại tổ F, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Vũ Đức S và Nguyễn Tiến D1 đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 cây mai vàng, hoành gốc 55cm, cao 02 mét và 01 xe lôi 02 bánh tự chế của anh Nguyễn Bảo N. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 12.900.000đồng. Hành vi của Vũ Đức S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là đúng người đúng tội.
[2] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội đã ra đầu thú, có trình độ học vấn thấp nên sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo S được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Căn cứ quyết định hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, thể hiện sự liều lĩnh và xem thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử tù về tội đánh bạc nhưng không tự rèn luyện bản thân. Do đó, cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên xem xét giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
[5] Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác:
Trách nhiệm dân sự:
Đối với cây mai vàng, hoành gốc 55cm, cao 02 mét thuộc sở hữu của anh Nguyễn Bảo N. Hiện đã trao trả cho anh N là phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với xe lôi 02 bánh tự chế, hiện chưa thu hồi được. Anh Nguyễn Bảo N yêu cầu Vũ Đức S bồi thường số tiền 2.700.000đồng. Tuy nhiên kết luận định giá tài sản ngày 28/3/2024 xác định giá trị chiếc xe là 1.900.000đồng nên buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại tài sản cho anh N số tiền là 1.900.000đồng là có căn cứ.
Đối với số tiền 600.000đồng Vũ Đức S có được từ việc Nguyễn Tiến D1 bán xe và chia cho S. Đây là tiền có được từ hành vi chiếm đoạt tài sản của anh N, do đã buộc S phải bồi thường thiệt hại tài sản cho anh N nên không bắt buộc S phải nộp lại số tiền này.
Về các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Tiến D1, hiện đã bỏ đi khỏi nơi cư trú. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm nhưng chưa có kết quả. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho chị Nguyễn Thị Quỳnh A - sinh năm 1988 (là em gái D1) và anh Nguyễn Bảo N và Vũ Đức S nhận dạng Nguyễn Tiến D1 qua hình ảnh trích xuất từ Camera an ninh thu được tại nhà anh N nhưng chỉ có Vũ Đức S nhận dạng được D1 còn chị Quỳnh A và anh N không nhận dạng được D1 nên chưa đủ cơ sở để khởi tố bị can đối với Nguyễn Tiến D1. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh và xử lý sau.
Đối với xe mô tô hiệu Dream không rõ biển số, là phương tiện Vũ Đức S sử dụng làm phương tiện phạm tội. Tuy nhiên, xe mô tô trên do S mượn của người bạn tên L1 (không rõ nhân thân. lai lịch) nên không có cơ sở để xác minh, thu hồi.
[6] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Xét quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 2, Điều 136; Điều 329; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- - Điều 584, 585, 586, 588, 589, Điều 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- - Điểm a, khoản 1, Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Đức S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.1 Xử phạt bị cáo Vũ Đức S 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án ngày 18/11/2024.
Bắt, tạm giam bị cáo Vũ Đức S tại phiên tòa ngay sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Vũ Đức S phải bồi thường thiệt hại tài sản cho anh Nguyễn Bảo N số tiền là 1.900.000đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quanthi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơnyêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trảcho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành áncòn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suấtquy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
Bị cáo Vũ Đức S phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Nguyễn Bảo N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan |
Bản án số 167/2024/HSST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 167/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vu Duc S - trom cap tai san
