Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2024/HS-ST

Ngày: 15/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phùng Văn Long.
  2. Ông Lê Văn Minh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phục là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Duy Ngọc Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 156/2024/TLST - HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Hoàng A, sinh ngày 29 tháng 11 năm 1983 tại tỉnh Tiền Giang.

Số định danh cá nhân: 082083013360

Nơi cư trú: Số H, Tổ G, ấp B, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp không; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị C; có vợ (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Ngày 03/8/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 52/2020/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2022, chưa được xoá án tích. Ngày 21/9/2022, bị Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo bản án số 41/2022/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/4/2024, chưa được xoá án tích; tiền sự không; bị bắt, tạm giam ngày 12/7/2024.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Trần Văn G, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lê Thị B, sinh năm 1972 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người làm chứng: Anh Phan Văn M, sinh năm 1981 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 31/5/2024, Trần Hoàng A (có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích) điều khiển xe mô tô hai bánh, biển số 63S5-7035 đi từ xã V về hướng xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Khi đi trên đường H, A thấy nhà của anh Trần Văn G tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang khóa cửa bên ngoài, không có ai ở nhà nên A nảy sinh ý định vào nhà để tìm tài sản lấy trộm. A để xe bên hông nhà, rồi đi vòng ra phía sau khu vực chuồng trại chăn nuôi thấy 02 máy motor bơm nước (loại 0,5HP và 01HP), 02 máy cưa cầm tay (01 máy cưa không có lưỡi cưa, nhãn hiệu XENAH và 01 máy cưa có lưỡi cưa, nhãn hiệu HUSOVAMA). A lấy bao nilon có sẵn bỏ 02 máy motor bơm nước vào bao nilon, 02 máy cưa thì cầm trên tay rồi mang tất cả ra ngoài để chở đi thì bị anh G phát hiện bắt giữ và trình báo Cơ quan Công an.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 67/KL-HĐĐG ngày 24/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tiền Giang kết luận: 01(một) máy motor bơm nước loại 0,5HP, không rõ nhãn hiệu, tình trạng đã bị hư hỏng không hoạt động sử dụng được có giá trị là 50.000 đồng; 01(một) máy motor bơm nước loại 01HP, không rõ nhãn hiệu, tình trạng đã bị hư hỏng không hoạt động sử dụng được có giá trị là 50.000 đồng; 01(một) máy cưa gỗ cầm tay, không có lưỡi cưa, nhãn hiệu XENAH, tình trạng đã bị hư hỏng không hoạt động sử dụng được có giá trị là 300.000 đồng; 01(một) máy cưa gỗ cầm tay, có lưỡi cưa, nhãn hiệu HUSOVAMA, tình trạng hoạt động sử dụng bình thường có giá trị là 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 1.400.000 (Một triệu bốn trăm nghìn) đồng.

Tại bản cáo trạng số 155/CT-VKSCT ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Trần Hoàng A về “Tội trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hoàng A phạm “Tội trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 và áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 32, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Hoàng A từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự, không xem xét; Về xử lý vật chứng, tịch thu tiêu huỷ cây mỏ lết bằng kim loại, có chữ số 12/300 mm FORGED STELL.

Tại phiên tòa, bị cáo A khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo A nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình đã vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo được sớm về với gia đình

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về bản kết luận định giá tài sản số 67/KL-HĐĐG ngày 24/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện C, tỉnh Tiền Giang. Kiểm sát viên cũng không có ý kiến gì về kết luận định giá nêu trên. Việc định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự được thực hiện theo đúng quy định của tố tụng hình sự.
  3. Tại phiên tòa, bị cáo A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các chứng cứ, tài liệu thu thập trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 14 giờ ngày 31/5/2024, tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Trần Hoàng A đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh Trần Văn G, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 1.400.000 đồng. Do A có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, tiếp tục phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Hoàng A phạm “Tội trộm cắp tài sản” như nội dung bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  4. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an địa phương, gây tâm lý hoang mang cho nhiều người. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Về mặt ý thức chủ quan, bị cáo biết rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác nhằm vụ lợi cá nhân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng các chế tài của pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
  5. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt thể hiện sự khoan hồng và chính sách nhân đạo của pháp luật.
  6. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 21/9/2022, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo bản án số 41/2022/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/4/2024, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này được xem là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  7. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Văn G đã nhận lại các tài sản bị mất trộm, không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  8. Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63S5-7035 do chị Lê Thị B đứng tên chủ sở hữu. Chị B khai bán xe này đã lâu, không nhớ thông tin người mua. Bị cáo Trần Hoàng A khai mượn xe này của chị Mai Thị Kim T trú tại xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang rồi sử dụng xe này làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra chưa làm việc được chị T nên tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau là phù hợp quy định.
  9. Về xử lý vật chứng, tịch thu tiêu huỷ đối với 01 (một) cây mỏ lết bằng kim loại, có chữ số 12/300 mm FORGED STELL, bị cáo đem theo để làm công cụ phạm tội.
  10. Xét ý kiến của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  11. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng A phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  1. Xử phạt bị cáo Trần Hoàng A 01 (một) năm tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giam là ngày 12/7/2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) cây mỏ lết bằng kim loại, có chữ số 12/300 mm FORGED STEEL.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).

  1. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Trần Hoàng A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Châu Thành;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - CQ.CSĐT CA H. Châu Thành;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an H. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H. Châu Thành;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về tội trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 167/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: án hình sự Trần Hoàng A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger