|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 167/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11 – 9 – 2024
“V/v Tranh chấp của nam, nữ
chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Việt Khái.
Ông Nguyễn Văn Hoàng.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Bảo Trân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 245/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 về việc "Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 272/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị U, sinh năm: 1978 (Có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Đất S, xã Phú Th, huyện Phú T, tỉnh CM.
Bị đơn: Ông Tô Văn Kh, sinh năm: 1968 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Đất S, xã Phú Th, huyện Phú T, tỉnh CM.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị U trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Tô Văn Kh chung sống với nhau vào năm 1997, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán tại địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo bà là do ông, bà bất đồng quan điểm, không quan tâm chăm sóc nhau, dẫn đến vợ chồng cự cải. Mâu thuẫn giữa vợ, chồng cha mẹ hai bên có biết nhưng không tổ chức hòa giải hàn gắn. Bà và ông Kh đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Bà U xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Kh.
Về con chung: Bà U xác định ông, bà có một người con chung tên Tô Huỳnh Đ, sinh ngày 10/11/2000. Hiện con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Bà U xác định có nhưng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà U khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Tô Văn Kh thể hiện:
Về hôn nhân: Ông Kh đồng ý ly hôn với bà U.
Về con chung: Ông Kh xác định ông, bà có một người con chung tên Tô Huỳnh Đ, sinh ngày 10/11/2000. Hiện con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Ông Kh xác định có nhưng ông, bà tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông Kh khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.
Ngày 04/9/2024 ông Kh nộp Đơn xin vắng mặt đề ngày 04/9/2024.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị U về việc xin ly hôn với ông Tô Văn Kh thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 14, 53 của Luật hôn nhân và gia đình; ông Khởi là bị đơn có nơi cư trú tại ấp Đất Sét, xã Phú Thuận, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Ông Tô Văn Kh có đơn đề nghị xét xử vắng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Kh theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị U và ông Tô Văn Kh tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán ở địa phương. Có đủ điều kiện kết hôn nhưng ông, bà không có đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, quan hệ hôn nhân của ông, bà đã vi phạm về đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, cho nên hôn nhân giữa ông, bà không thỏa mãn về mặt hình thức. Nay ông, bà yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân do có nhiều mâu thuẫn dẫn đến cự cãi, không tin tưởng lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt. Ông, bà đã ly thân từ năm 2020 đến nay mà không bên nào có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn. Bên cạnh đó, bà U cương quyết xin ly hôn, trường hợp Tòa án không cho ông ly hôn, bà cũng không trở về chung sống với ông Kh được nữa vì tình cảm vợ, chồng không còn.
Xét mâu thuẫn thực tế của bà U và ông Kh đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đồng thời, hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên ông, bà không được công nhận là vợ, chồng.
[4] Về con chung: Bà U, ông Kh xác định: Ông, bà có một người con chung tên Tô Huỳnh Đ, sinh ngày 10/11/2000. Hiện con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Bà U, ông Kh xác định có nhưng ông, bà tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về nợ chung và người khác nợ lại: Bà U, ông Kh khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Thị U và bà Tô Văn Kh là vợ chồng.
- Về con chung: Bà U, ông Kh xác định: Ông, bà có một người con chung tên Tô Huỳnh Đ, sinh ngày 10/11/2000. Hiện con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà U, ông Kh xác định có nhưng ông, bà tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung và người khác nợ lại: Bà U, ông Kh khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà U phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 02 tháng 8 năm 2024, bà U đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0003773 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân được chuyển thu sung quỹ nhà nước.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3
Bà Nguyễn Thị U có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Tô Văn Kh có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thúy Dung |
4
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Đào Việt Khái |
Nguyễn Văn Hoàng |
Lê Thúy Dung |
5
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 11 tháng 9 năm 2024.
Tại Phòng nghị án, trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thúy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Việt Khái;
Ông Nguyễn Văn Hoàng.
Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 245/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 về việc "Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn", giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị U, sinh năm: 1978 (Có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Đất Sét, xã Phú Thuận, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Tô Văn Kh, sinh năm: 1968 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Đất Sét, xã Phú Thuận, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
Áp dụng các Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Kết quả biểu quyết 3/3.
- Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Thị U và bà Tô Văn Kh là vợ chồng.
- Về con chung: Bà Út, ông Khởi xác định: Ông, bà có một người con chung tên Tô Huỳnh Đức, sinh ngày 10/11/2000. Hiện con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Út, ông Khởi xác định có nhưng ông, bà tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả biểu quyết 3/3.
Kết quả biểu quyết 3/3.
6
- Về nợ chung và người khác nợ lại: Bà Út, ông Khởi khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà Út phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 02 tháng 8 năm 2024, bà Út đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0003773 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân được chuyển thu sung quỹ nhà nước.
Kết quả biểu quyết 3/3.
Kết quả biểu quyết 3/3.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà Nguyễn Thị U có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Tô Văn Kh có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Kết quả biểu quyết 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 9 năm 2024.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
|
Hội thẩm nhân dân |
Chủ tọa phiên tòa |
Hội thẩm nhân dân |
|
Đào Việt Khái |
Lê Thúy Dung |
Nguyễn Văn Hoàng |
7
Bản án số 167/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
- Số bản án: 167/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng các Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Thị U và bà Tô Văn Kh là vợ chồng. 2. Về con chung: Bà U, ông Kh xác định: Ông, bà có một người con chung tên Tô Huỳnh Đ, sinh ngày 10/11/2000. Hiện con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. 3. Về tài sản chung: Bà U, ông Kh xác định có nhưng ông, bà tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. 4. Về nợ chung và người khác nợ lại: Bà U, ông Kh khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết. 5. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà U phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 02 tháng 8 năm 2024, bà U đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0003773 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân được chuyển thu sung quỹ nhà nước. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 3 Bà Nguyễn Thị U có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Tô Văn Kh có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
