TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 167/2024/DS-ST
Ngày: 24-07-2024
V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài
sản và tiền hụi.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đinh Kim Hoàng.
- Bà Võ Thanh Nga.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23, 24 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 33/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản và tiền hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 665/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1966 “có mặt”.
Địa chỉ: 2 Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1978 “có mặt”.
- Bà Trịnh Thị Kim N, sinh năm 1983 “vắng mặt”.
Địa chỉ: A Ter A Xóm C, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: A Ter A Xóm C, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Võ Thị N1, sinh năm 1974 “có mặt”.
Địa chỉ: A Xóm C, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu V trình bày: Ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N là hai vợ chồng hợp pháp. Ngày 15/01/2023, bà Trịnh Thị Kim N có vay số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất 1,5%/tháng, thời hạn vay là 02 năm, kể từ ngày 15/01/2023 đến ngày 15/01/2025. Bà Nguyễn Thị Thu V đã giao đủ tiền cho bà Trịnh Thị Kim N. Đến khoảng tháng 08 năm 2023, bà Nguyễn Thị Thu V tiếp tục cho bà Trịnh Thị Kim N vay số tiền 100.000.000 đồng. Việc vay mượn tiền chỉ là thỏa thuận miệng, không có lập văn bản giấy tờ gì. Bà Nguyễn Thị Thu V đã giao đủ tiền cho bà Trịnh Thị Kim N. Đến ngày 06/03/2023, bà Trịnh Thị Kim N tiếp tục vay số tiền 1.000.000.000 đồng, lãi suất 1,5%/tháng, số tiền phải đóng mỗi tháng là 15.000.000 đồng, thời hạn vay là 02 năm, kể từ ngày 06/03/2023 đến ngày 06/02/2025. Bà Nguyễn Thị Thu V đã giao đủ tiền cho bà Trịnh Thị Kim N. Tại hai Hợp đồng vay mượn tiền ngày 06/03/2023 và ngày 15/01/2023 nêu trên đều có chữ ký và chữ viết của bà Trịnh Thị Kim N và ông Nguyễn Minh Q nhưng không được công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bà Trịnh Thị Kim N có chơi hụi do bà Nguyễn Thị Thu V là chủ hụi. Dây hụi gồm 12 kỳ, mỗi kỳ đóng 1.000.000 đồng. Bắt đầu dây hụi vào ngày 01/05/2023. Bà Trịnh Thị Kim N chơi 10 phần, mượn tên bà Võ Thị N1 để chơi 10 phần và chơi dùm cho một người tên N2 (không rõ họ tên) 05 phần. Tổng cộng là 25 phần. Quá trình chơi hụi, bà Trịnh Thị Kim N đã hốt ở kỳ đầu vào ngày 01/05/2023. Do đó, bà Nguyễn Thị Thu V đã giao tiền hụi cho bà Trịnh Thị Kim N 15 phần với số tiền tổng cộng là 124.500.000 đồng và giao tiền hụi của 10 phần cho bà Võ Thị N1 với số tiền là 83.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi, bà Trịnh Thị Kim N đã đóng hốt chết của 25 phần được 04 kỳ thì bỏ trốn. Do đó, bà Trịnh Thị Kim N còn thiếu tiền hụi chưa đóng của 08 kỳ, mỗi kỳ là 15.000.000 đồng. Tổng cộng là 120.000.000 đồng.
Nhận thấy quyền và lợi ích bị xâm phạm nên bà Nguyễn Thị Thu V khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N phải có trách nhiệm liên đới trong việc:
- Thanh toán số tiền nợ gốc của Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/01/2023, ngày 06/03/2023 và Hợp đồng vay tiền thỏa thuận bằng miệng vào khoảng tháng 08 năm 2023 với số tiền tổng cộng là 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng).
- Thanh toán tiền lãi tính từ ngày 01/01/2024 cho đến thời điểm xét xử vụ án của Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/01/2023, ngày 06/03/2023 và Hợp đồng vay tiền thỏa thuận bằng miệng vào khoảng tháng 08 năm 2023 với mức lãi suất là 18%/năm đối với số nợ gốc là 1.500.000.000 đồng.
- Thanh toán tiền hụi còn thiếu của 08 kỳ còn lại với số tiền là 08 kỳ x 15.000.000 đồng/kỳ = 120.000.000 đồng.
Thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị đơn bà Trịnh Thị Kim N vắng mặt nên không có lời trình bày tại Tòa án.
Bị đơn ông Nguyễn Minh Q trình bày: Ông và bà Trịnh Thị Kim N là hai vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đối với các Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/01/2023; Hợp đồng vay mượn tiền ngày 06/03/2023 do
nguyên đơn cung cấp thì có chữ ký và chữ viết của ông Nguyễn Minh Q với tư cách là người bảo lãnh. Tuy nhiên, ông Nguyễn Minh Q xác định không biết và không liên quan gì đến việc vay mượn tiền giữa bà Trịnh Thị Kim N với bà Nguyễn Thị Thu V. Ngoài ra, việc bà Trinh Thị Kim N3 chơi hụi và hốt hụi thì ông Nguyễn Minh Q cũng không biết và không liên quan gì. Do đó, ông Nguyễn Minh Q không đồng ý với bất kỳ yêu cầu khởi kiện nào của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Võ Thị N1 trình bày: Bà có quen biết với bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N. Việc chơi hụi giữa bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N thì bà Võ Thị N1 hoàn toàn không hay biết. Đến khi bà Nguyễn Thị Thu V giao hụi thì bà Võ Thị N1 mới biết là bà Trịnh Thị Kim N đã mượn danh nghĩa của bà Võ Thị N1 để chơi hụi với bà V, cụ thể như sau: Dây hụi gồm 12 kỳ, mỗi kỳ đóng 1.000.000 đồng. Bà Trịnh Thị Kim N mượn danh nghĩa của bà Võ Thị N1 để chơi 10 phần và hốt đầu vào ngày 01/05/2023. Do đó, bà Nguyễn Thị Thu V đã giao tiền hụi cho bà Võ Thị N1 với số tiền tổng cộng là 83.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền hụi thì bà Võ Thị N1 đã bàn giao tiền hụi này cho bà Trịnh Thị Kim N ngay tại nhà của bà Trịnh Thị Kim N và yêu cầu bà N phải có trách nhiệm đóng hụi chết cho bà Nguyễn Thị Thu V. Việc giao nhận tiền hụi giữa bà Võ Thị N1 và bà Trịnh Thị Kim N không lập văn bản giấy tờ gì nên không thể cung cấp cho Tòa án. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà Võ Thị N1 không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa:
- Bà Trịnh Thị Kim N vắng mặt không rõ lý do.
- Bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Minh Q và bà Võ Thị N1 xác định giữ nguyên ý kiến đã trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng:
- Về nội dung:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định tại các Điều 170, Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thực hiện đúng về thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tiến hành theo đúng quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ nguyên tắc xét xử về phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Điều 222, Điều 223 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình xét xử, Chủ tọa phiên tòa đã đảm bảo cho các đương sự phát biểu trình bày quan điểm theo quy định tại Điều 247 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N phải có trách nhiệm liên đới trong các Hợp đồng vay ngày 15/01/2023 và ngày 06/03/2023:
Ông Nguyễn Minh Q với bà Trịnh Thị Kim N là vợ chồng hợp pháp, tuy nhiên trong 02 (hai) hợp đồng vay tiền giữa bà V và bà N có xác nhận ông Nguyễn Minh Q là người bảo lãnh hợp pháp của hai hợp đồng này. Tại phiên tòa, bà V xác nhận không trực tiếp thấy ông Q ký vào các Hợp đồng trên. Đồng thời, tại bản giám định chữ ký của ông Q và chữ ký ở trong hợp đồng vay mượn tiền thì đây không phải cũng một người ký, và ông Q cũng đã xác nhận là không biết cũng như không liên quan đến việc mượn tiền giữa bà N và bà V và số tiền đó cũng không phục vụ vào nhu cầu sinh hoạt bình thường của gia đình. Do đó, xác định đây là nợ riêng của bà N không liên quan gì đến ông Q theo khoản 3, Điều 45 về Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn việc buộc ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N phải có trách nhiệm liên đới trả các khoản vay. Chấp nhận việc cá nhân một mình bà Trịnh Thị Kim N có trách nhiệm trả các khoản vay như sau:
- Đối với yêu cầu của nguyên đơn về thanh toán số tiền nợ gốc của hai Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/01/2023 và ngày 06/03/2023 với số tiền tổng cộng là 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng).
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu V khai: Ngày 15/01/2023, bà Trịnh Thị Kim N có vay số tiền 400.000.000 đồng bằng Hợp đồng vay và 100.000.000 đồng là thỏa thuận miệng, không có chứng cứ. Đến ngày 06/03/2023, bà N tiếp tục vay số tiền 1.000.000.000 đồng. Bà V xác định đã giao đủ tiền của hai Hợp đồng cho bà N.
Hai bên đã cùng xác lập giao dịch dân sự, cụ thể là Hợp đồng vay tài sản với số tiền 1.400.000.000 đồng có chứng cứ, có kỳ hạn và có lãi theo quy định tại Điều 116, 117, 119, 463 Bộ Luật Dân sự năm 2015.
Bà N đã không thanh toán số tiền nợ cho bà V theo các hợp đồng đã ký, do đó yêu cầu của Nguyên đơn buộc Bị đơn là bà N phải thanh toán số tiền trên là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 466 Bộ Luật dân sự năm 2015 và theo thỏa thuận tại Điều 2 của Hợp đồng vay tiền. Tuy nhiên, do nguyên đơn chỉ có chứng cứ đối với số tiền 1.400.000.000 đồng nên được chấp nhận. Không chấp nhận số tiền 100.000.000 đồng thỏa thuận miệng không có chứng cứ.
- Đối với yêu cầu của nguyên đơn về thanh toán tiền lãi chưa thanh toán từ tháng 01 năm 2024 cho đến thời điểm xét xử vụ án của hai Hợp đồng vay mượn tiền ngày 22/6/2021 và ngày 06/3/2023 với mức lãi suất là 18%/năm đối với số nợ gốc là 1.500.000.000 đồng.
Hai hợp đồng vay tiền có cùng kỳ hạn 02 năm ký kết vào ngày 15/01/2023 ngày 06/3/2023. Tại thỏa thuận vay ngày 15/01/2023 và tại thỏa thuận vay ngày 06/3/2023 đều với lãi suất là 18%/năm. Do đó, nguyên đơn yêu cầu trả lãi vay là 18%/năm phù hợp theo nên phần áp dụng về lãi, lãi suất áp dụng theo Điều 468 Bộ Luật dân sự 2015 và khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019.
Yêu cầu nguyên đơn xác định số tiền lãi để có cơ sở chấp nhận yêu cầu tính tiền lãi suất với mức là 18%/năm đối với số tiền gốc 1.400.000.000 đồng. Không chấp nhận phần tính lãi đối với số tiền 100.000.000 đồng không được chấp nhận.
- Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc thanh toán tiền hụi còn thiếu là 08 phần x 15.000.000 đồng/phần = 120.000.000 đồng.
Xét theo quy định của pháp luật về hình thức thỏa thuận về dây họ, hụi theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này thì bà V không đưa ra được các loại giấy tờ và văn bản xác nhận việc bà N có tham gia chơi dây hụi do bà V làm chủ.
Tại chứng cứ nguyên đơn cung cấp, chỉ là Biên nhận số tiền Nguyên đơn tự ký nhận, không có chữ ký xác nhận của bị đơn.
Do đó, xác định đây không phải là hình thức của việc tổ chức H, họ, biêu, phường nên không có căn cứ để yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền hụi còn thiếu là 120.000.000 đồng theo Điều 7 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP về Họ, H, B, P.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Không chấp nhận yêu cầu buộc ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N phải có trách nhiệm liên đới trả nợ các khoản vay. Chỉ chấp nhận việc buộc riêng cá nhân bà Trịnh Thị Kim N phải chịu trách nhiệm trả các khoản vay như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn là bà Trịnh Thị Kim N có nghĩa vụ phải trả số tiền 1.400.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Thu V.
- Không chấp nhận số tiền yêu cầu bà Trịnh Thị Kim N có nghĩa vụ phải trả số tiền 100.000.000 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu buộc bà Trịnh Thị Kim N trả tiền lãi suất với mức là 18%/năm đối với số tiền gốc 1.400.000.000 đồng. Không chấp nhận phần yêu cầu tính lãi đối với số tiền 100.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán phần tiền hụi còn thiếu là 120.000.000 đồng.
- Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận; Bị đơn bà Trịnh Thị Kim N phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng:
1.1. Về quan hệ tranh chấp:
Xét, bà Nguyễn Thị Thu V khởi kiện yêu cầu bà Trịnh Thị Kim N và ông Nguyễn Minh Q thanh toán tiền hụi và số tiền vay còn thiếu. Như vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản và tiền hụi” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ kết quả xác minh của Tòa án tại Công an P1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh thì “Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1978 và bà Trịnh Thị Kim N, sinh năm 1983 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ A T A Xóm C, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh”. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.3. Về thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện được việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Đối với bị đơn bà Trịnh Thị Kim N không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng không nộp bất cứ tài liệu chứng cứ nào liên quan đến vụ án. Tòa án đã tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Trịnh Thị Kim N đều vắng mặt mà không có lý do. Như vậy, đây là thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bà Trịnh Thị Kim N thì bà Trịnh Thị Kim N đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Trịnh Thị Kim N mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai có mặt tại phiên tòa mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bà Trịnh Thị Kim N là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.
[2] Về pháp luật nội dung:
2.1. Xét về tính hợp pháp của giao dịch dân sự được xác lập giữa bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như Hợp đồng vay mượn tiền ký kết giữa bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N vào các ngày 15/01/2023, ngày 06/03/2023 thì có cơ sở khẳng định như sau: Vào ngày 15/01/2023, bà Nguyễn Thị Thu V đã cho bà Trịnh Thị Kim N vay số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất cho vay là 1,5%/tháng, thời hạn vay là từ ngày 15/01/2023 đến ngày 15/01/2025. Vào ngày 06/03/2023, bà Nguyễn Thị Thu V đã cho bà Trịnh Thị Kim N vay số tiền 1.000.000.000 đồng, lãi suất cho vay là 1,5%/tháng, thời hạn vay là từ ngày 06/03/2023 đến ngày 06/02/2025. Việc vay mượn tiền được ghi nhận tại Hợp đồng vay mượn tiền, có chữ ký, chữ viết của các bên đương sự nhưng không được công chứng chứng thực theo quy định.
Xét, việc thỏa thuận vay tài sản giữa bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N đã được cụ thể hóa bằng hành vi cụ thể, đó là bà Nguyễn Thị Thu V đã thực hiện các giao dịch chuyển khoản cho bà Trịnh Thị Kim N như sau:
- Ngày 07/03/2023, bà Nguyễn Thị Thu V đã thực hiện các giao dịch chuyển khoản cho bà Trịnh Thị Kim N tại Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Q1, Thành phố Hồ Chí Minh số tiền tổng cộng là 500.000.000 đồng.
- Cùng ngày 07/03/2023, bà Nguyễn Thị Thu V đã thực hiện các giao dịch chuyển khoản cho bà Trịnh Thị Kim N tại Ngân hàng TMCP T - Chi nhánh B số tiền tổng cộng là 300.000.000 đồng.
- Ngày 08/03/2023, bà Nguyễn Thị Thu V đã thực hiện các giao dịch chuyển khoản cho bà Trịnh Thị Kim N tại Ngân hàng TMCP T - Chi nhánh B số tiền tổng cộng là 140.000.000 đồng. Trong đó, có ghi nhận nội dung giao dịch là Đã chuyển cho N tổng cộng là 1.000.000.000 đồng.
- Ngày 27/04/2023, bà Nguyễn Thị Thu V đã thực hiện các giao dịch chuyển khoản cho bà Trịnh Thị Kim N tại Ngân hàng TMCP T - Chi nhánh B số tiền là 83.000.000 đồng.
- Ngày 26/06/2023, bà Nguyễn Thị Thu V đã thực hiện các giao dịch chuyển khoản cho bà Trịnh Thị Kim N tại Ngân hàng TMCP T - Chi nhánh B số tiền là 60.000.000 đồng.
Điều này đã được Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Q1, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận bằng Công văn số 137/2024/CV-CNQ4 ngày 06/06/2024 và Văn bản xác nhận số XN 0105585 ngày 08/07/2024 của Ngân hàng TMCP T - Chi nhánh B.
Như vậy, tại thời điểm xác lập giao dịch dân sự, bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N đều là những chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, tham gia giao dịch một cách hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đây là giao dịch dân sự được xác định là hợp pháp nên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của cả hai bên.
2.2. Xét về trách nhiệm liên đới giữa ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N đối với việc thanh toán số tiền còn thiếu của bà Nguyễn Thị Thu V:
Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Minh Q cho rằng chữ ký và chữ viết tại các Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/01/2023, ngày 06/03/2023 là không phải của ông nên đã yêu cầu Tòa án tiến hành giám định chữ ký và chữ viết của ông tại các văn bản này. Tại Kết luận giám định số 4745/KL-KTHS ngày 06/05/2024 của Phòng K Công an Thành phố H thì “Chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Minh Q dưới mục “Bên bảo lãnh” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Minh Q trên tài liệu mẫu so sánh không phải do cùng một người ký và viết ra”. Như vậy, có cơ sở khẳng định chữ ký và chữ viết tại mục Bên bảo lãnh tại các Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/01/2023, ngày 06/03/2023 không phải do ông Nguyễn Minh Q viết và ký tên với tư cách là người bảo lãnh cho số tiền vay mượn giữa bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Minh Q xác định cửa hàng Q2 là cửa hàng do hai vợ chồng ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N mở kinh doanh các mặt hàng Điện - Nước có địa điểm kinh doanh tại nhà của ba ruột ông tọa lạc tại A Xóm C, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông thừa nhận việc vay mượn nợ của bà Trịnh Thị Kim N được xác lập trong thời kỳ hôn nhân nhưng nhằm mục đích gì thì ông không rõ. Tuy nhiên, vì tình nghĩa vợ chồng nên ông Nguyễn Minh Q đồng ý chịu trách nhiệm liên đới trong việc thanh toán nợ cho bà Nguyễn Thị Thu V. Do tình hình kinh tế khó khăn, ông Nguyễn Minh Q cho rằng không thể thanh toán toàn bộ số tiền còn thiếu theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị sẽ trả dần cho đến khi chấm dứt số nợ theo phương thức có được bao nhiêu thì sẽ thanh toán bấy nhiêu.
Về vấn đề này, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Nguyễn Minh Q không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh bà Trịnh Thị Kim N không sử dụng số tiền đã vay mượn để nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Mặt khác, căn cứ các Văn bản xác nhận của Ngân hàng TMCP T - Chi nhánh B và Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Q1, Thành phố Hồ Chí Minh đều có nội dung thể hiện: Việc chuyển tiền vay mượn giữa bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N đều có nội dung giao dịch là Hùn vốn vô cửa hàng Q2. Nội dung này là phù hợp với mục đích vay mượn tiền được thể hiện tại các Hợp đồng vay
mượn tiền ngày 15/01/2023, ngày 06/03/2023 được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N. Như vậy, có cơ sở xác định: Mặc dù nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ giao dịch do một mình bà Trịnh Thị Kim N xác lập, tuy nhiên mục đích vay tiền là để phục vụ cho việc kinh doanh cửa hàng Quyết Ngân do hai vợ chồng ông Nguyễn Minh Q và bà Trịnh Thị Kim N làm chủ. Do đó, đã làm phát sinh nghĩa vụ chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 27, Điều 30, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Minh Q tự nguyện chịu trách nhiệm liên đới trong việc thanh toán nợ cho bà Nguyễn Thị Thu V. Xét, đây là sự tự nguyện và ý chí định đoạt của đương sự, không trái quy định pháp luật và phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
2.3. Xét Hợp đồng vay mượn tiền được xác lập ngày 15/01/2023 giữa bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N:
2.3.1. Xét về số nợ gốc:
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bà Nguyễn Thị Thu V đã cung cấp cho Tòa án bản chính Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/01/2023 có đầy đủ chữ ký và chữ viết của cả hai bên đương sự, trong đó có nội dung thể hiện: Ngày 15/01/2023, bà Nguyễn Thị Thu V đã cho bà Trịnh Thị Kim N vay số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất cho vay là 1,5%/tháng, thời hạn vay là từ ngày 15/01/2023 đến ngày 15/01/2025.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thu V khai nhận đã đưa giao đủ số tiền cho vay là 400.000.000 đồng cho bà Trịnh Thị Kim N dưới nhiều hình thức là đưa trực tiếp bằng tiền mặt cũng như chuyển khoản. Tuy nhiên, việc giao nhận giữa hai bên không tiến hành lập biên bản giao nhận hay bất cứ văn bản nào nên không thể cung cấp cho Tòa án.
Tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 quy định “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Quá trình giải quyết vụ án, bà Trịnh Thị Kim N không có mặt, không cung cấp lời khai cũng như không cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án được xem như là tự tước bỏ việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nên phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ các tài liệu chứng cứ theo quy định pháp luật.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.
2.3.2. Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với tiền lãi tính từ ngày 01/01/2024 cho đến ngày tuyên án với mức lãi suất là 18%/năm:
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thu V cho rằng: Sau khi ký kết hợp đồng vay mượn tiền thì bà Trịnh Thị Kim N đã đóng đủ tiền lãi mỗi tháng. Đến đầu năm 2024, bà Trịnh Thị Kim N bỏ trốn, không tiếp tục thanh toán tiền lãi như đã thỏa thuận. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi tính từ ngày 01/01/2024 cho đến ngày tuyên án với mức lãi suất là 18%/năm.
Tại khoản 2, khoản 3 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm như sau: “2. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng được xác lập kể từ ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định về lãi, lãi suất của Bộ
luật dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết. 3. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng có lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 hướng dẫn tại khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Mức lãi suất thỏa thuận không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.....”.
Tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017 quy định như sau: “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”.
Xét, Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/01/2023 thể hiện hai bên đương sự thỏa thuận mức lãi suất là 1,5%/tháng, tức 18%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
Số tiền lãi được tính như sau:
[1,5%/tháng x 06 tháng x 400.000.000 đồng] + [1,5%/tháng : 30 ngày x 24 ngày x 400.000.000 đồng] = 36.000.000 đồng + 4.800.000 đồng = 40.800.000 đồng.
Như vậy, số tiền bà Trịnh Thị Kim N và ông Nguyễn Minh Q phải có trách nhiệm liên đới trong việc thanh toán cho bà Nguyễn Thị Thu V đối với Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/01/2023 tổng cộng là 440.800.000 đồng, trong đó: nợ gốc là 400.000.000 đồng và nợ lãi là 40.800.000 đồng.
2.4. Xét Hợp đồng vay mượn tiền được xác lập ngày 06/03/2023 giữa bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N:
2.4.1. Xét về số nợ gốc:
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bà Nguyễn Thị Thu V đã cung cấp cho Tòa án bản chính Hợp đồng vay mượn tiền ngày 06/03/2023 có đầy đủ chữ ký và chữ viết của cả hai bên đương sự, trong đó có nội dung thể hiện: Ngày 06/03/2023, bà Nguyễn Thị Thu V đã cho bà Trịnh Thị Kim N vay số tiền 1.000.000.000 đồng, lãi suất cho vay là 1,5%/tháng, thời hạn vay là từ ngày 06/03/2023 đến ngày 06/02/2025.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thu V khai nhận đã giao số tiền 940.000.000 đồng cho bà Trịnh Thị Kim N bằng hình thức chuyển khoản, số tiền còn lại là 60.000.000 đồng thì bà đã giao trực tiếp bằng tiền mặt cho bà Trịnh Thị Kim N nhưng không lập bất kỳ văn bản giấy tờ gì nên không thể cung cấp cho Tòa án.
Căn cứ Công văn số 137/2024/CV-CNQ4 ngày 06/06/2024 của Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Q1, Thành phố Hồ Chí Minh và Văn bản xác nhận số XN 0105585 ngày 08/07/2024 của Ngân hàng TMCP T - Chi nhánh B thì có cơ sở khẳng định: Bà Nguyễn Thị Thu V đã thực hiện các giao dịch chuyển khoản cho bà Trịnh Thị Kim N như sau:
- Ngày 07/03/2023, bà Nguyễn Thị Thu V đã thực hiện các giao dịch chuyển khoản cho bà Trịnh Thị Kim N tại Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Q1, Thành phố Hồ Chí Minh số tiền tổng cộng là 500.000.000 đồng.
- Cùng ngày 07/03/2023, bà Nguyễn Thị Thu V đã thực hiện các giao dịch chuyển khoản cho bà Trịnh Thị Kim N tại Ngân hàng TMCP T - Chi nhánh B số tiền tổng cộng là 300.000.000 đồng.
- Ngày 08/03/2023, bà Nguyễn Thị Thu V đã thực hiện các giao dịch chuyển khoản cho bà Trịnh Thị Kim N tại Ngân hàng TMCP T - Chi nhánh B số tiền tổng cộng là 140.000.000 đồng. Trong đó, có ghi nhận nội dung giao dịch là Đã chuyển cho N tổng cộng là 1.000.000.000 đồng.
Như vậy, có cơ sở khẳng định bà Nguyễn Thị Thu V đã giao đủ số tiền vay là 1.000.000.000 đồng cho bà Trịnh Thị Kim N dưới hai hình thức là chuyển khoản và giao nhận trực tiếp bằng tiền mặt.
Như đã phân tích nêu trên: Quá trình giải quyết vụ án, bà Trịnh Thị Kim N đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, xem như bà Trịnh Thị Kim N đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và mặc nhiên thừa nhận số nợ này. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.
2.4.2. Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với tiền lãi tính từ ngày 01/01/2024 cho đến ngày tuyên án với mức lãi suất là 18%/năm:
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thu V cho rằng: Sau khi ký kết hợp đồng vay mượn tiền thì bà Trịnh Thị Kim N đã đóng đủ tiền lãi mỗi tháng. Đến đầu năm 2024, bà Trịnh Thị Kim N bỏ trốn, không tiếp tục thanh toán tiền lãi như đã thỏa thuận. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi tính từ ngày 01/01/2024 cho đến ngày tuyên án với mức lãi suất là 18%/năm.
Như đã phân tích, Hợp đồng vay mượn tiền ngày 06/03/2023 thể hiện hai bên đương sự đã thỏa thuận mức lãi suất là 1,5%/tháng, tức 18%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
Số tiền lãi được tính như sau:
[1,5%/tháng x 06 tháng x 1.000.000.000 đồng] + [1,5%/tháng: 30 ngày x 24 ngày x 1.000.000.000 đồng] = 90.000.000 đồng + 12.000.000 đồng = 102.000.000 đồng.
Như vậy, số tiền bà Trịnh Thị Kim N và ông Nguyễn Minh Q phải có trách nhiệm liên đới trong việc thanh toán cho bà Nguyễn Thị Thu V đối với Hợp đồng vay mượn tiền được xác lập ngày 06/03/2023 tổng cộng là 1.102.000.000 đồng, trong đó: nợ gốc là 1.000.000.000 đồng và nợ lãi là 102.000.000 đồng.
2.5. Xét việc vay mượn số tiền 100.000.000 đồng được xác lập giữa bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N:
2.5.1. Xét về số nợ gốc:
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thu V khai nhận: Bà Trịnh Thị Kim N đã tham gia 10 phần trong dây hụi do bà Nguyễn Thị Thu V làm chủ hụi. Bà Trịnh Thị Kim N đã hốt vào kỳ đầu ngày 01/05/2023 với số tiền tổng cộng là 83.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi, bà Trịnh Thị Kim N đã đóng hụi chết được 04 kỳ thì nói rằng không có khả năng đóng hụi chết của 08 kỳ còn lại nên đề nghị vay số tiền 100.000.000 đồng để
đóng trước tiền hụi chết của 08 kỳ còn lại là 80.000.000 đồng và vay thêm 20.000.000 đồng tiền mặt để phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình. Bà Nguyễn Thị Thu V đồng ý nên đã cấn trừ số tiền 80.000.000 đồng vào tiền hụi chết của 08 kỳ còn lại, đồng thời đưa thêm 20.000.000 đồng tiền mặt cho bà Trịnh Thị Kim N nhưng không lập văn bản giấy tờ gì nên không thể cung cấp cho Tòa án.
Để chứng minh cho lời trình bày của mình, bà Nguyễn Thị Thu V đã cung cấp Văn bản xác nhận XN 0105585 ngày 08/07/2024 của Ngân hàng TMCP T - Chi nhánh B trong đó có nội dung thể hiện: Vào ngày 27/04/2023, bà Nguyễn Thị Thu V đã chuyển số tiền 83.000.000 đồng cho bà Trịnh Thị Kim N.
Xét, ngày khui dây hụi và hốt đầu dây hụi theo sự thừa nhận của bà Nguyễn Thị Thu V là ngày 01/05/2023. Trong khi việc chuyển khoản số tiền 83.000.000 đồng giữa bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N là ngày 27/04/2023. Điều này là không hợp lý. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thu V không cung cấp được bất kỳ tài liệu chứng cứ gì để chứng minh đã xác lập giao dịch dân sự vay mượn số tiền 100.000.000 đồng giữa bà Nguyễn Thị Thu V với bà Trịnh Thị Kim N, ông Nguyễn Minh Q. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.
2.5.2. Xét về số nợ lãi:
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thu V cho rằng: Sau khi vay số tiền 100.000.000 đồng, bà Trịnh Thị Kim N đã đóng đủ tiền lãi mỗi tháng. Đến đầu năm 2024, bà Trịnh Thị Kim N bỏ trốn, không tiếp tục thanh toán tiền lãi như đã thỏa thuận. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi tính từ ngày 01/01/2024 cho đến ngày tuyên án với mức lãi suất là 18%/năm.
Số tiền lãi được tính như sau:
[1,5%/tháng x 06 tháng x 100.000.000 đồng] + [1,5%/tháng: 30 ngày x 24 ngày x 100.000.000 đồng] = 9.000.000 đồng + 1.200.000 đồng = 10.200.000 đồng.
Như đã phân tích, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu đối với số nợ gốc nên không chấp nhận yêu cầu tiền lãi đối với số tiền 100.000.000 đồng của nguyên đơn.
2.6. Xét về hợp đồng góp hụi giữa bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N:
2.6.1. Xét về hình thức góp hụi:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Hợp đồng góp hụi giữa bà Nguyễn Thị Thu V và bà Trịnh Thị Kim N được xác lập vào ngày 01/05/2023 bằng lời nói, hụi có lãi và có hoa hồng, không thỏa thuận bằng văn bản, không công chứng, chứng thực sổ hụi, không ghi số giấy chứng minh nhân dân hoặc số căn cước công dân; ngày tháng năm sinh của các thành viên góp hụi, lãi suất trong hụi có lãi; quyền và nghĩa vụ của chủ hụi là thực hiện chưa đúng hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 7 và Điều 8 của Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính Phủ về hụi, họ, biêu, phường. Do đó, việc tranh chấp, yêu cầu giải quyết, được xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 25 của Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
2.6.2. Xét về nội dung góp hụi:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn thì có cơ sở khẳng định: Bà Nguyễn Thị Thu V là người tổ chức góp hụi. Dây hụi gồm 12 kỳ, mỗi kỳ đóng 1.000.000 đồng. Bà Trịnh Thị Kim N chơi 10 phần, mượn tên bà Võ Thị N1 để chơi 10 phần và đứng tên chơi dùm cho một người tên N2 (không rõ họ tên) 05 phần. Tổng cộng là 25 phần hụi. Quá trình chơi hụi, bà Trịnh Thị Kim N, bà Võ Thị N1 đã hốt ở kỳ đầu vào ngày 01/05/2023. Do đó, bà Nguyễn Thị Thu V đã giao tiền hụi của 15 phần cho bà Trịnh Thị Kim N với số tiền tổng cộng là 124.500.000 đồng và giao tiền hụi của 10 phần cho bà Võ Thị N1 với số tiền là 83.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi, bà Trịnh Thị Kim N đã đóng hụi chết được 04 kỳ, hiện còn nợ 08 kỳ hụi. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán số tiền của 08 kỳ hụi chết của 15 phần (trong đó có 10 phần bà Trịnh Thị Kim N mượn danh nghĩa của bà Võ Thị N1 và 05 phần bà Trịnh Thị Kim N chơi dùm người tên N2) với số tiền tổng cộng là 08 kỳ x 15 phần x 1.000.000 đồng = 120.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
- Tại tờ biên hụi thứ nhất do bà Nguyễn Thị Thu V cung cấp thể hiện bà Trịnh Thị Kim N đã hốt tiền hụi ở kỳ thứ nhất vào ngày 01/05/2023 với số tiền là của 05 phần tổng cộng là 41.500.000 đồng nhưng không có tên của các thành viên chơi hụi cũng như không có chữ ký, chữ viết thể hiện việc giao nhận tiền hụi giữa bà Nguyễn Thị Thu V, bà Trịnh Thị Kim N.
- Tại tờ biên hụi thứ hai do bà Nguyễn Thị Thu V cung cấp thể hiện bà Võ Thị N1 cũng là người hốt hụi ở kỳ thứ nhất vào ngày 01/05/2023 với số tiền của 10 phần tổng cộng là 83.000.000 đồng nhưng không có tên của các thành viên chơi hụi cũng như không có chữ ký, chữ viết thể hiện việc giao nhận tiền hụi giữa bà Nguyễn Thị Thu V, bà Võ Thị N1.
Căn cứ vào sự xác nhận của các đương sự thì bà Trịnh Thị Kim N và bà Võ Thị N1 cùng là thành viên chơi cùng một dây hụi do bà Nguyễn Thị Thu V làm chủ hụi. Trên thực tế cho thấy trong cùng một dây hụi không thể có nhiều thành viên cùng hốt hụi vào cùng một kỳ. Hay nói cách khác, trong cùng một dây hụi thì không thể có trường hợp bà Trịnh Thị Kim N và bà Võ Thị N1 cùng hốt hụi vào cùng ngày kỳ đầu của dây hụi là ngày 01/05/2023. Mặt khác, tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thu V và bà Võ Thị N1 đều thừa nhận bà Võ Thị N1 là người trực tiếp nhận tiền hụi từ chủ hụi là bà Nguyễn Thị Thu V. Do đó, trách nhiệm đóng hụi chết còn lại của 10 phần là của bà Võ Thị N1, chứ không phải là bà Trịnh Thị Kim N.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.
[3]. Về chi phí giám định:
- Ông Nguyễn Minh Q tự nguyện nộp chi phí giám định là 5.000.000 đồng và đã nộp xong chi phí giám định.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì:
- Bà Nguyễn Thị Thu V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.
- Bà Trịnh Thị Kim N và ông Nguyễn Minh Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu V được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 203, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016.
- Căn cứ Chương VIII, Điều 117, Điều 119, Điều 280, Điều 357, Điều 429, Điều 468, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017.
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường.
- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015.
- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu V về việc buộc bà Trịnh Thị Kim N và ông Nguyễn Minh Q phải có trách nhiệm liên đới trong việc thanh toán tiền hụi còn thiếu là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu V về việc buộc bà Trịnh Thị Kim N và ông Nguyễn Minh Q phải có trách nhiệm liên đới trong việc thanh toán số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu V về việc buộc bà Trịnh Thị Kim N và ông Nguyễn Minh Q phải có trách nhiệm liên đới trong việc thanh toán tiền lãi đối với số tiền 100.000.000 đồng tính từ ngày 01/01/2024 đến ngày tuyên án với số tiền là 10.200.000 đồng (mười triệu hai trăm nghìn đồng).
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu V:
- Buộc bà Trịnh Thị Kim N và ông Nguyễn Minh Q phải có trách nhiệm liên đới trong việc thanh toán cho bà Nguyễn Thị Thu V số tiền nợ gốc của Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/01/2023 và ngày 06/03/2023 với số tiền tổng cộng là 1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng).
- Buộc bà Trịnh Thị Kim N và ông Nguyễn Minh Q phải có trách nhiệm liên đới trong việc thanh toán tiền lãi của Hợp đồng vay mượn tiền ngày 15/01/2023, ngày 06/03/2023 với số tiền tổng cộng là 142.800.000 đồng (một trăm bốn mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).
Tổng cộng là 1.542.800.000 đồng (một tỷ năm trăm bốn mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày bà Nguyễn Thị Thu V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trịnh Thị Kim N và ông Nguyễn Minh Q chưa thanh toán đầy đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về chi phí giám định:
- Ông Nguyễn Minh Q tự nguyện chịu chi phí giám định là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Ông Nguyễn Minh Q đã nộp xong chi phí giám định.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị Thu V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 11.510.000 đồng (mười một triệu năm trăm mười nghìn đồng). Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu số 0034460 ngày 17/06/2024 và số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 30.375.000 đồng theo biên lai thu số 0034031 ngày 11/01/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, bà Nguyễn Thị Thu V được trả lại số tiền là 21.365.000 đồng (hai mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
- Bà Trịnh Thị Kim N, ông Nguyễn Minh Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 58.284.000 đồng (năm mươi tám triệu hai trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đoàn Thanh Trúc |
15
Bản án số 167/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tiền hụi
- Số bản án: 167/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản và tiền hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tiền hụi giữa Nguyên đơn bà Nguyễn Thị TV và Bị đơn ông Nguyễn Minh Q, bà Trịnh Thị Kim N
