TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 167/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17/7/2024 V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Phước;
- Bà Lê Hiếu Xuyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu- Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/5/2024 về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/6/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 112A/2024/QÐST-HNGĐ ngày 21/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Ngọc T, sinh năm 2003 (vắng mặt – có đơn xin xét xử văng mặt)
- Bị đơn: Anh Lê Sĩ N, sinh năm 1998 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0853.698.xxx
Địa chỉ: Ấp B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0706.840.xxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Ngọc T trình bày: Tôi với anh Lê Sĩ N chung sống với nhau từ năm 2019, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang ngày 04/6/2021. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng đến đầu năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh N tính tình cọc cằn, gia trưởng, mỗi lần làm về mệt thì lại hằn học với vợ, vợ chồng thường xuyên cự cãi, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Tôi và gia đình 02 bên đều khuyên can anh N sửa đổi nhưng không được. Khoảng đầu tháng 3/2024, không chịu được nữa nên tôi bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống - ở H, Kiên Giang, con thì quen ở với nhà nội nên tôi không dẫn theo được. Dù đã cố gắng duy trì cuộc sống hôn nhân nhưng không có kết quả, vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lê Sĩ N. Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Lê Vĩ K, sinh ngày 14/4/2020 (hiện đang sống với cha). Sau khi ly hôn, tôi đồng ý giao con chung cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng, tôi sẽ không cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn anh Lê Sĩ N: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Lê Sĩ N nhưng anh N đã vắng mặt không lý do nên không có lời khai của anh N.
Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của chị Huỳnh Ngọc T và anh Lê Văn đ Ủy ban nhân dân thị trấn N cung cấp như sau: “……bà Huỳnh Ngọc T và ông Lê Sĩ N có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N. Còn việc 01 con chung của ông N và bà T hiện đang sống với ai và việc bà T và ông N có còn sống chung với nhau hay không thì UBND thị trấn N không nắm rõ...”.
Tại phiên tòa: Chị Huỳnh Ngọc T vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lê Sĩ N vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đã xác minh về tình trạng hôn nhân, có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn với anh N. Về con chung: Giao 01 con chung tên Lê Vĩ K, sinh ngày 14/4/2020 (hiện đang sống với cha) cho anh N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Chị T yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; Bị đơn anh Lê Sĩ N cư trú tại huyện T, tỉnh An Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa, anh N vẫn vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự; Chị Huỳnh Ngọc T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Ngọc T chung sống với anh Lê Sĩ N có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. Do vậy, căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Thời gian đầu vợ chồng chị T và anh N chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp, thường xuyên cự cãi, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Chị T đã cố gắng duy trì cuộc sống hôn nhân nhưng vẫn không đạt kết quả, vợ chồng anh chị đã ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm nhau.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh N không đến Tòa để tham dự các phiên hòa giải cũng như xét xử, không gửi tờ tự khai thể hiện ý kiến của mình là mặc nhiên thừa nhận có sự mâu thuẫn giữa vợ chồng và không có ý muốn hàn gắn. Do đó, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn là có cơ sở. Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh N đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh N.
[2.2] Về con chung: Qua chứng cứ chị Huỳnh Ngọc T cung cấp cũng như kết quả xác minh tình trạng hôn nhân thì chị Huỳnh Ngọc T và anh Lê Sĩ N có 01 con chung tên Lê Vĩ K, sinh ngày 14/4/2020 (đang sống với cha). Chị T cho rằng anh N hiện đang chăm sóc con rất tốt nên chị yêu cầu cho giao cháu K cho anh N được tiếp tục nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án anh N không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị T về con chung. Do vậy, HĐXX áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, giao con chung tên Lê Vĩ K, sinh ngày 14/4/2020 cho anh Lê Sĩ N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu K thành niên (đủ 18 tuổi), tự lao động được là phù hợp và đảm bảo được các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, việc học tập, môi trường sống của cháu; Anh N phải tạo điều kiện cho chị T được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở; Khi cần thiết chị T có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T trình bày không có nên HĐXX không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày không có nên HĐXX không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.
[5] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Ngọc T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Ngọc T được ly hôn với anh Lê Sĩ N.
- Về quan hệ con chung: Anh Lê Sĩ N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lê Vĩ K, sinh ngày 14/4/2020 (con chung đang sống với cha); Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Huỳnh Ngọc T do anh Lê Sĩ N không yêu cầu. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung:
- Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Huỳnh Ngọc T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
- Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Huỳnh Ngọc T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Huỳnh Ngọc T và anh Lê Sĩ N phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Huỳnh Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0013852 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, chị T đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Anh Lê Sĩ N không phải chịu án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Cẩm Xuyên |
Bản án số 167/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 167/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
