Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 167/2024/HS-ST

Ngày: 16-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đức Thụ

Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thi Thị Tuyết Nhung

Bà Tạ Thị Kim Tuyến

Ông Nguyễn Ngọc Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thànha phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 984/2023/HSST ngày 27/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1598/2024/QĐST-HS ngày 27/3/2024 đối với bị cáo:

Đoàn Trần Bảo K; sinh năm 1991 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú và cư trú: số 1 đường Đ (nay là đường L), Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Văn H (chết) và bà: Trần Thị H1, sinh năm: 1955; vợ: Phạm Các L, sinh năm 1994; con: có 02 người, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: bản án số 218/2013/HSST ngày 04/11/2013, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 21/01/2018, chấp hành xong bản án.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/4/2023. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Kim H2 - Chi nhánh trung tâm T1 và trợ giúp pháp lý cho người chưa thành niên phía nam, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 45 phút, ngày 05/4/2023, tại trước nhà số B đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, tổ công tác Công an quận B phát hiện Trần Nguyễn Hoàng P và Đoàn Trần Bảo K có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện 01 túi giấy ghi chữ “SWEET LIFE” bên trong có 01 túi nylon chứa ma túy, khối lượng 996,44 gam, loại Methamphetamine, K khai số ma túy của K, nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K cùng vật chứng (BL 19 - 21).

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đoàn Trần Bảo K tại nhà số I đường Đ (nay là đường L), Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, không có đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội (BL 42 - 43).

Quá trình điều tra, Đoàn Trần Bảo K1 khai quen người đàn ông tên L1 (không rõ lai lịch). Lúc 13 giờ ngày 5/4/2023, L1 sử dụng tài khoản Telegram tên “Atam” (không có số điện thoại) gọi điện đến tài khoản Telegram tên “Onlin” (số điện thoại +84568481151) của K1, hẹn K1 ra cầu Đ, Phường A, quận B gặp L1 nhận ma túy đi giao người mua để nhận tiền công, thì K1 đồng ý. Sau đó, K1 đến khu vực cầu Đ 01 túi giấy ghi chữ “SWEET LIFE” bên trong chứa ma túy đá, L1 thỏa thuận trả cho K1 5.000.000 đồng tiền công sau khi K1 giao ma túy cho người mua tại khu vực trước hãng xe T, Phường B, quận B. Sau đó, K1 gọi điện cho Trần Nguyễn Hoàng P nhờ chở K1 đi giao ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng như đã nêu trên (BL 102 – 116).

Vật chứng là ma túy thu giữ của Đoàn Trần Bảo K1 đã được giám định, thể hiện tại Kết luận giám định số 3343/KL-KTHS ngày 11/4/2023 của Phòng K2 Công an Thành phố H (BL 63).

Đối với Trần Nguyễn Hoàng P, tài liệu điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Đoàn Trần Bảo K1, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là có cơ sở.

Đối với người tên L1, do không xác định được lai lịch nên không có cơ sở xem xét, xử lý.

Tại bản cáo trạng số 628/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã truy tố để xét xử đối với bị cáo Đ Trần Bảo K1 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi tóm tắt nội dung vụ án và trình bày lời luận tội, đánh giá về tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tình tiết định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã khẳng định bản Cáo trạng truy tố để xét xử đối với bị cáo Đoàn Trần Bảo K1 về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố là có cơ sở pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Đoàn Trần Bảo K1 tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung bị cáo 20 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy còn lại sau giám định và xử lý vật chứng là đồ vật, tài sản theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Đ Trần Bảo K1 trình bày: tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai ra lai lịch của đối tượng tên L1 là người chấp hành hình phạt tại trại giam Z chung với bị cáo, nên có cơ sở xác định L1 là người cầm đầu, cung cấp ma túy, do đó đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung, làm rõ đối tượng L1 vì đây là đường dây mua bán ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tranh luận: về lai lịch của đối tượng L1, các tình tiết mà bị cáo khai về L1 tại phiên tòa thì bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, cơ quan điều tra đã xác minh tại trại giam, vì không có đủ dữ liệu nên không thể xác định được đối tượng L1, do đó không có căn cứ để trả hồ sơ làm rõ đối tượng L1 và bảo lưu quan điểm truy tố về nội dung vụ án.

Bị cáo đồng ý với ý kiến của luật sư bào chữa cho mình, không tranh luận bổ sung, chỉ đề nghị xem xét được hưởng mức án khoan hồng để có cơ hội trở về lại với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều và tại phiên tòa, bị cáo Đ Trần Bảo K1 không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Trần Bảo K1 đã khai nhận toàn bộ hành vi khách quan của mình việc vận chuyển trái phép chất ma túy, nội dung phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố.

Lời khai nhận bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản khám xét, tạm giữ đồ vật - tài liệu, niêm phong vật chứng, mở niêm phong vật chứng, cùng các tài liệu, biên bản về hoạt động tố tụng khác của Cơ quan điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Đoàn Trần Bảo K1 quen biết từ trước với đối tượng tên L1. Bị cáo K1 thỏa thuận nhận ma túy từ L1 đi giao cho người mua ma túy để nhận tiền công 5.000.000 đồng. Vào lúc 13 giờ 45 phút, ngày 05/4/2023, tại trước nhà số B đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, khi bị cáo K1 đang trên đường đi giao ma túy thì bị bắt quả tang, thu giữ được ma túy là Methamphetamine có khối lượng 996,44 gam. Hành vi trên của bị cáo Đ Trần Bảo K1 đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng 100 gam trở lên”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo là một trong các nguyên nhân chính làm gia tăng các loại tội phạm về ma túy và tệ nạn xã hội khác tiếp theo như mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng ma túy..., gây ra vấn nạn về người nghiện ma túy và để lại hậu quả nặng nề cho xã hội. Bị cáo đã thành niên, là người có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình, đã bị kết án về tội phạm ma túy, nhưng chỉ vì tham lam, hám lợi mà bị cáo vẫn cố ý phạm tội bất chấp hậu quả mang lại cho xã hội, xem thường lợi ích cho cộng đồng. Với khối lượng ma túy mà bị cáo vận chuyển thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay tình trạng giới trẻ sử dụng ma túy đang gia tăng.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo mặc dù có tình tiết giảm nhẹ nêu trên nhưng phạm tội thuộc trường hợp vận chuyển trái phép khối lượng ma túy lớn, thể hiện bị cáo có thái độ bất chấp, xem thường pháp luật và không còn khả năng cải tạo, nên cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt cao nhất của khung hình bị áp dụng, loại bỏ các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng của hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, bị cáo có thể bị phạt một khoản tiền bổ sung nộp vào ngân sách nhà nước.

Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử đối với bị cáo Đoàn Trần Bảo K1 về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội; mức hình phạt đề nghị xử phạt đối với bị cáo Đ Trần Bảo K1 là có căn cứ nên chấp nhận.

Lập luận nêu trên cũng là căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo Đoàn Trần Bảo K1.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Vật chứng là ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định, là vật nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 3343 757/23, có chữ ký ghi tên Giám định viên và Điều tra viên.

- Thu giữ của bị cáo: 02 điện thoại Iphone màu vàng và tím, 01 điện thoại Nokia và 01 đồng hồ đeo tay. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo dùng điện thoại di động Iphone màu vàng làm phương tiện liên lạc phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước; đối với 1 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, 01 điện thoại di động hiệu Nokia và 01 đồng hồ đeo tay, xác định được không liên quan đến hành vi phạm tội, là tài sản cá nhân nên trả lại cho bị cáo (nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án).

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Trần Bảo K1 tử hình, về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Phạt bổ sung 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng nộp vào ngân sách nhà nước.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Đoàn Trần Bảo K1 để đảm bảo thi hành án.

[2] Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 3343 757/23, có chữ ký ghi tên Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T, Điều tra viên Phan Đức H3, bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định.
  • - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (thực nhận 01 điện thoại kiểu dáng Iphone màu vàng, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
  • - Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (thực nhận 01 điện thoại kiểu dáng Iphone màu tím, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia (...9587, đã cũ, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) và 01 đồng hồ đeo tay màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án của bị cáo Đoàn Trần Bảo K1.

(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/218 ngày 18/3/2024 của Cục thi hành án dân sư Thành phố Hồ Chí Minh)

[3] Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

[4] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP. HCM; (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - Cục Thi hành án dân sự; (1)
  • - Sở tư pháp; (1)
  • - Trại giam; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Thi hành án hình sự; (2)
  • - Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (20) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đức Thụ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 167/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đoàn Trần Bảo K tử hình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger