TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 167/2023/HS-ST Ngày 14-08-2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Châu
Bà Nguyễn Thị Huyền Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi Nga, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Dương Thái Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 08 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2023/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2023/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trần Hoàng Chung T, sinh năm 1981 tại tỉnh Quảng Ninh; đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ I phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú hiện nay: Số E Tổ A ngõ A Y, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Hoàng Thị N; Chồng Vũ Văn T1 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2007; tiền án: Không; tiền sự: Không; D chỉ bản số: 265 ngày 16/05/2023 của Công an quận H, thành phố Hà Nội; tạm giữ, tạm giam: Không. (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH L2; Địa chỉ Quốc lộ A, phường K, Thành phố T, Tỉnh Long An. Người đại diện theo pháp luật ông ISSA A RABIE – Tổng giám đốc Công ty TNHH L2; Người đại diện theo ủy quyền ông Hồ Quốc V - Trưởng phòng Ngoại vụ miền Bắc kiêm Trưởng Chi nhánh H2. Địa chỉ liên lạc: Tòa nhà văn phòng C4, số A ngõ X, phường N, quận Đ, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16h20' ngày 04/01/2023, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ - Công an quận H làm nhiệm vụ tại phố M, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội phát hiện Hoàng Văn D1, sinh năm: 1982, Chỗ ở: thôn N, xã V, huyện Đ, Thành phố Hà Nội điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 29S1 – 554.84 dừng đỗ tại khu vực trước cửa nhà số F phố M, trên giá chở hàng của xe chở 11 bình nước nhãn hiệu Lavie, có nghi vấn là nước khoáng Lavie giả. Tổ công tác đã lập biên bản và đưa D1 cùng vật chứng về trụ sở làm việc. Cơ quan công an thu giữ của Hoàng Văn D1 08 bình nước khoáng thiên nhiên, có nhãn hiệu Lavie, thể tích 19 lit, trên nắp có tem nắp hình giọt nước, có chữ Lavie màu đỏ, chữ 19L màu trắng, bên ngoài có bọc màng co màu đỏ có chữ L; 03 bình nước uống đóng chai, nhãn hiệu Lavie Viva thể tích 18,5 lit, trên nắp có tem nắp hình giọt nước, có chữ NESTLÉ WATERS màu trắng, phần vòi đều có bọc kín bằng nilon, có chữ NESTLÉ WATERS màu trắng và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 29S1-554.84. Tại cơ quan công an, Hoàng Văn D1 khai nhận: D1 là nhân viên chở nước cho Trần Hoàng Chung T là Giám đốc công ty TNHH T2, địa chỉ: ngõ B Tổ A phố Y, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Khoảng 15h40 phút ngày 04/01/2023, T giao cho D1 đi chở nước khoáng Lavie đến số F phố M để giao cho khách hàng. T và D1 lấy 11 bình nước khoáng Lavie từ công ty (bao gồm 08 bình Lavie 19 lit và 03 bình Lavie Viva 18,5 lit) để D1 chở đến số F phố M giao cho khách hàng. D1 không xuất trình được hóa đơn, phiếu xuất kho cũng như giấy tờ chứng minh nguồn gốc của 11 bình nước nêu trên.
Tại cơ quan công an, Trần Hoàng Chung T khai nhận là Giám đốc công ty T2 với ngành nghề kinh doanh chính là cung cấp các loại nước uống văn phòng bao gồm: Lavie, M, V1. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên khoảng tháng 4 năm 2022, T nảy sinh ý định làm các bình nước Lavie giả để bán cho khách kiếm lời. T đã mua một số tem mác, màng co nhãn hiệu Lavie từ đối tượng C (không xác định được nhân thân, lai lịch) với giá 13.000đồng/bộ. T liên lạc với C qua mạng xã hội Facebook, T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, tài khoản Facebook của C. T trả tiền cho C bằng tiền mặt khi C giao hàng cho T tại công ty. Sau đó, T sang chiết các bình nước Miru sang các vỏ bình mang nhãn hiệu Lavie (là các vỏ bình do khách hàng đã sử dụng, chỉ còn vỏ bình), sau đó T đóng lại, dán màng co, tem nhãn hiệu Lavie rồi dùng máy khò làm lớp màng co lại cho chặt. Các bình nước Lavie giả sẽ được trộn lẫn với hàng thật rồi đem bán với giá 60.000 đồng đến 65.000đồng. Tối ngày 02/01/2023, T đã tiến hành sang chiết nước trong các bình nước nhãn hiệu Miru sang các vỏ bình nước nhãn hiệu Lavie rồi đóng nắp lại, dán màng co nhãn hiệu Lavie rồi dùng máy khò để làm co lại lớp màng co. Trong tối ngày 02/01/2023, T đã làm giả được 11 bình nước L và có ý định sẽ bán cùng các bình nước Lavie thật để hưởng lợi 40.000đồng/bình. Đến khoảng 11h ngày 04/01/2023, có khách đặt mua 11 bình nước uống Lavie loại úp (gồm 08 bình Lavie 19 lit và 03 bình Lavie Viva 18,5 lit) đến địa chỉ số F phố M. T đã giao cho Hoàng Văn D1 11 bình Lavie trong đó 06 bình thật, 05 bình là hàng giả do T cố tình trộn lại để giao cho khách hàng. Khi D1 chuyển 11 bình nước nêu trên đến trước số nhà F phố M, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện. T khai nhận đây là lần đầu tiên Thuỷ sản xuất nước Lavie giả và đem bán cho khách thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện. Tại cơ quan công an, Trần Thị L1, sinh năm: 1987, C1 ở: phòng 3111 toà A1.2 chung cư N, xã K, huyện H, Thành phố Hà Nội khai nhận là kế toán của công ty T2, L1 là em gái của T. Công việc của L1 là đến công ty làm kế toán thuế, báo cáo thuế cho công ty theo yêu cầu của T. L1 không tham gia và không biết việc mua bán, xuất nhập hàng hoá của công ty. Tiến hành khám xét công ty của Trần Hoàng Chung T tại ngõ B Y, Tổ A phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội thu giữ: 09 bình nước loại 18,9 lit nhãn hiệu Miru có đề nơi sản xuất công ty TNHH N3, 54 bình nước loại 19 lit nhãn hiệu Lavie có đề nơi sản xuất công ty TNHH L3, các đồ vật tài liệu đựng trong 08 thùng cattong và 01 thùng xốp, 02 bao tải. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H đã niêm phong vật chứng và đưa về trụ sở làm việc.
Tại Trụ sở công an quận H, tiến hành mở niêm phong và kiểm kê bên trong có 01 máy sấy màu hồng trắng có chữ Philips; 01 máy khò màu đỏ có chữ SUKA; 01 tuýp chữ T màu vàng kích thước 17×28cm; 01 tuýp chữ T màu đen kích thước 19×29cm; 11 nắp nhựa màu đỏ xung quanh dán màng co màu đỏ và tem nhãn Lavie; 01 nắp nhựa đỏ có màng co màu đỏ - trên màng có chữ Lavie; 01 nắp nhựa màu đỏ có dán tem nhãn Lavie; 08 nắp nhựa màu đỏ có dán tem nhãn Lavie; 112 màng co màu đỏ - trên màng có chữ L.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với các bình nước, màng co, nhãn “La Vie” và nắp nhựa thu giữ của Hoàng Văn D1 và thu giữ tại công ty của Trần Hoàng Chung T.
Tại bản Kết luận giám định số 138 ngày 07/02/2023 của Viện khoa học kết luận: Các mẫu nước trong 62 bình nước ghi nhãn La Vie loại 19L, không có vòi gửi giám định trong đó: 52 mẫu có ký hiệu: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 16, 19, 20, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 52, 53, 54, 55, 57, 58, 61, 62 gửi giám định đều có cùng chất lượng nước so với mẫu nước trong các bình nước La Vie loại 19L, không có vòi do Nhà máy L4 thuộc Công ty TNHH L2 cung cấp làm mẫu so sánh:10 mẫu có ký hiệu: 14, 15, 17, 18, 21, 50, 51, 56, 59 và 60 gửi giám định đều không cùng chất lượng nước so với mẫu nước trong các bình nước La Vie loại 19L, không có vòi do Nhà máy L4 thuộc Công ty TNHH L2 cung cấp làm mẫu so sánh. Hàm lượng các chỉ tiêu: tổng chất rắn hoà tan (TDS), natri (Na+), canxi, (Ca2+), magie (Mg2+), kali (K+) đều nhỏ hơn so với hàm lượng của các chỉ tiêu tương ứng của mẫu nước trong các bình nước nhãn hiệu La Vie loại 19L do Nhà máy L4 cung cấp làm mẫu so sánh và đều không đạt tiêu chuẩn công bố trên nhãn bình nước của Công ty TNHH L2.
Các mẫu nước trong 03 bình nước ghi nhãn La Vie loại 18,5L, có vòi gửi giám định trong đó: 02 mẫu ký hiệu 63 và 64 gửi giám định đều có cùng chất lượng nước so với mẫu nước trong các bình La Vie V2 loại 18,5 L, có vòi do Nhà máy L4 thuộc Công ty TNHH L2 cung cấp làm mẫu so sánh; 01 mẫu ký hiệu 65 gửi giám định không cùng chất lượng nước so với mẫu nước trong các bình nước La Vie V loại 18,5 L, có vòi do Nhà máy L4 thuộc Công ty TNHH L2 cung cấp làm mẫu so sánh. Hàm lượng các chỉ tiêu: tổng chất rắn hoà tan (TDS), natri (Na+), canxi, (Ca2+), magie (Mg2+), kali (K+) đều nhỏ hơn so với hàm lượng của các chỉ tiêu tương ứng của mẫu nước trong các bình nước nhãn hiệu La Vie Viva loại 18,5 L, có vòi do Nhà máy L4 cung cấp làm mẫu so sánh.
Các mẫu nước gửi giám định đều không tìm thấy thành phần các chất độc thường gặp; Các chỉ tiêu Florua (F-), N1 (NO3-), N2 (NO2-), X (CN-), C2 (P), A (A), C3 (C), Thuỷ ngân (H) đều nhỏ hơn giới hạn tối đa cho phép theo QCVN 6-1:2010/BYT (Q đối với nước khoáng thiên nhiên và nước uống đóng chai). Tại bản Kết luận giám định số 140 ngày 10/02/2023 của V3 - Bộ C5 kết luận: Không đủ cơ sở kết luận các lớp in trên các màng co cần giám định ký hiệu từ A1-1 đến A1-113; Các lớp in trên màng co của các mẫu cần giám định ký hiệu từ A2-1 đến A2-11 so với các lớp in trên các màng co mẫu so sánh ký hiệu từ M1-1 đến M1-5 có phải do cùng các bản in tương ứng in ra hay không. Các lớp in trên nhãn dẫn trên các mẫu cần giám định ký hiệu A2-1 đến A2-11, từ 43-1 đến A, A4 so với các lớp in trên các nhãn mẫu so sánh ký hiệu từ M2-1 đến M2-5 không phải do cùng các bản in tương ứng in ra.
Tại bản Kết luận giám định số 3327 ngày 12/5/2023 của V3 - Bộ C5 kết luận: Các mẫu nước trong 09 bình nước ghi nhãn hiệu Miru loại 18,9 lít gửi giám định đều có cùng chất lượng nước so với mẫu nước trong các bình nước nhãn hiệu Miru loại 18,9 lít do Công ty TNHH N3 cung cấp làm mẫu so sánh. Các mẫu nước gửi giám định đều không tìm thấy thành phần các chất độc thường gặp; Các chỉ tiêu Florua (F-), N1 (NO3-), N2 (N), X (CN- ), C2 (P), A (A), C3 (C), Thuỷ ngân (H) đều nhỏ hơn giới hạn tối đa cho phép theo QCVN 6-1:2010/BYT (Q đối với nước khoáng thiên nhiên và nước uống đóng chai). Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 11 bình nước nhãn hiệu Lavie do Trần Hoàng Chung T làm giả.
Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 88 ngày 08/5/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự quận H kết luận: 10 bình nước nhãn hiệu Lavie, loại 19 lít, không vòi, mới, chưa qua sử dụng trị giá 670.000đồng; 01 bình nước nhãn hiệu Lavie, loại 18,5 lit, có vòi, mới, chưa qua sử dụng trị giá 67.000đồng. Tổng giá trị tài sản là 737.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chiếc xe máy Honda Wave BKS 29S1-554.84, SK: RLHHC09027Y682131, SM: HC09E-5781203 thu giữ của Hoàng Văn D1: Xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE đeo BKS: 29S1-554.84: Số khung nguyên thuỷ: RLHHC09027Y682131. Số máy nguyên thuỷ: HC09E-5781203. Quá trình điều tra xác định Hoàng Văn D1 và Trần Thị L1 không biết và không liên quan đến hành vi sản xuất, buôn bán nước Lavie giả của Trần Hoàng Chung T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H không đề cập xử lý. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 2951-554.84 thu giữ của Hoàng Văn D1 là do anh Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1976, Đăng ký thường trú: Tổ A thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội đứng tên đăng ký.
Tại cơ quan điều tra, anh H1 trình bày chiếc xe trên do anh H1 mua và đứng tên đăng ký sử dụng đến năm 2018 thì bán lại cho Trần Hoàng Chung T. Sau khi mua chiếc xe trên, T đã giao chiếc xe trên cho anh D1 để sử dụng khi giao các bình nước cho công ty. Đối với 01máy sấy màu hồng trắng có chữ Philips, 01 máy khò màu đỏ có nhãn hiệu SUKA, 01 tuýp chữ T màu vàng kích thước 17×28cm, 01 tuýp chữ T màu đen kích thước 19×29cm, 11 nắp nhựa đỏ có màng co màu đỏ - trên màng có chữ Lavie (màu trắng), 01 nắp nhựa đỏ có màng co (màu đỏ) - trên màng có chữ Lavie (màu trắng), 01 nắp nhựa màu đỏ có dán tem nhãn Lavie, 08 nắp nhựa trắng có dán tem nhãn Lavie, 112 màng co màu đỏ - trên màng co có chữ Lavie (màu trắng): quá trình điều tra xác định là công cụ mà Trần Hoàng Chung T dùng để sản xuất các bình nước giả.
Đối với 10 bình nước Lavie loại 19 lít có ký hiệu: 14, 15, 17, 18, 21, 50, 51, 56, 59, 60 và 01 bình nước Lavie loại 18,5 lít có ký hiệu 65: quá trình điều tra xác định là các bình nước do Trần Hoàng Chung T làm giả để bán cho khách hàng kiếm lời.
Đối với 52 bình nước Lavie loại 19 lít có ký hiệu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 16, 19, 20, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 52, 53, 54, 55, 57, 58, 61, 62; 02 bình nước Lavie loại 18,5 lit có ký hiệu 63, 64 và 09 bình nước nhãn hiệu Miru loại 18,9 lít: Quá trình điều tra xác định là các bình nước do Trần Hoàng Chung T mua về để bán cho khách, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H đã trao trả các bình nước trên cho T, T đã nhận lại và không có yêu cầu, đề nghị gì. Công ty TNHH L3 yêu cầu cơ quan chức năng xử lý vụ việc theo quy định pháp luật và không có yêu cầu gì về dân sự. Ngoài lời khai của Trần Hoàng Chung T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H không có tài liệu chứng minh về những lần phạm tội khác của T nên không có căn cứ xác minh, xử lý.
Bản cáo trạng số 160/CT-VKSHBT-HS ngày 30/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội đã truy tố Trần Hoàng Chung T về tội: "Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm", quy định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi thực hiện của bị cáo như nội nêu trên là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 193 của Bộ luật Hình sự; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hình phạt bổ sung: phạt tiền bị cáo 20.000.000đồng để sung công quỹ nhà nước. Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave của bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Tịch thu tiêu hủy 01 máy sấy màu hồng trắng có chữ Philips; 01 máy khò màu đỏ có chữ SUKA; 01 tuýp chữ T màu vàng kích thước 17×28cm, 01 tuýp chữ T màu đen kích thước 19×29cm, 11 nắp nhựa màu đỏ xung quanh dán màng co màu đỏ và tem nhãn Lavie; 01 nắp nhựa đỏ có màng co màu đỏ - trên màng có chữ Lavie (màu trắng); 01 nắp nhựa màu đỏ có dán tem nhãn Lavie; 08 nắp nhựa màu trắng có dán tem nhãn Lavie; 112 màng co màu đỏ - trên màng co có chữ Lavie (màu trắng) và 11 bình nước Lavie giả.
Bị cáo không tranh luận; bị cáo nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án thể hiện: Ngày 02/01/2023 tại Công ty TNHH T2 có địa chỉ tại số B Y Tổ A phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội bị cáo Trần Hoàng Chung T đã có hành vi sản xuất 11 bình nước Lavie giả có giá trị tương đương với hàng thật là 737.000đồng với mục đích bán kiếm lời. Đến ngày 04/01/2023 Trần Hoàng Chung T đã chuyển 11 bình nước Lavie trong đó có 05 bình là do T làm giả đến số F phố M, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội để bán cho khách hàng nhằm thu lời bất chính thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện. Do đó đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Hoàng Chung T phạm tội "Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm", quy định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật Hình sự. Việc truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Vì động cơ tư lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, chính sách quản lý thị trường của Nhà nước, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công ty L3 đồng thời xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do thiếu tu dưỡng, tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục riêng và là bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; ông bà nội của bị cáo là những người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu; hoàn cảnh gia đình bị cáó vợ chồng đã ly hôn một mình nuôi con ăn học, bản thân là lao động chính trong gia đình; Bị cáo có nơi thường trú, cụ thể rõ ràng. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hại gì cho xã hội. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo cũng như tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 29S1-554.84 của bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Tịch thu tiêu hủy những vật chứng không còn giá trị sử dụng bao gồm 01 máy sấy màu hồng trắng có chữ Philips; 01 máy khò màu đỏ có chữ SUKA; 01 tuýp chữ T màu vàng kích thước 17×28cm, 01 tuýp chữ T màu đen kích thước 19×29cm, 11 nắp nhựa màu đỏ xung quanh dán màng co màu đỏ và tem nhãn Lavie; 01 nắp nhựa đỏ có màng co màu đỏ - trên màng có chữ Lavie (màu trắng); 01 nắp nhựa màu đỏ có dán tem nhãn Lavie; 08 nắp nhựa màu trắng có dán tem nhãn Lavie; 112 màng co màu đỏ - trên màng co có chữ Lavie (màu trắng) và 11 bình nước Lavie giả bao gồm 10 bình nước Lavie loại 19 lít có ký hiệu: 14, 15, 17, 18, 21, 50, 51, 56, 59, 60 và 01 bình nước Lavie loại 18,5 lít có ký hiệu 65.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định; NGười có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng Chung T phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 193 của Bộ luật Hình sự; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng Chung T: 24(Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 48(Bốn mươi tám) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Hoàng Chung T cho Ủy ban nhân dân phường Y, quận C, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 29S1-554.84 của bị cáo. Tịch thu tiêu hủy 01 máy sấy màu hồng trắng có chữ Philips; 01 máy khò màu đỏ có chữ SUKA; 01 tuýp chữ T màu vàng kích thước 17×28cm, 01 tuýp chữ T màu đen kích thước 19×29cm, 11 nắp nhựa màu đỏ xung quanh dán màng co màu đỏ và tem nhãn Lavie; 01 nắp nhựa đỏ có màng co màu đỏ - trên màng có chữ Lavie (màu trắng); 01 nắp nhựa màu đỏ có dán tem nhãn Lavie; 08 nắp nhựa màu trắng có dán tem nhãn Lavie; 112 màng co màu đỏ - trên màng co có chữ Lavie (màu trắng) và 11 bình nước Lavie giả bao gồm 10 bình nước Lavie loại 19 lít có ký hiệu: 14, 15, 17, 18, 21, 50, 51, 56, 59, 60 và 01 bình nước Lavie loại 18,5 lít có ký hiệu 65.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản trao đổi giao nhận tang vật, vật chứng giữa Công an quận H với Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng số 245/23 ngày 11/8/2023).
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Tiến |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 167/2023/HS-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tội "sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm"
- Số bản án: 167/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội "Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hoàng Chung T phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm”.
