Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 167/2023/HS-PT

Ngày 06-12-2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thanh Bình
Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 145/2023/TLPT-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 do có kháng cáo của bị hại anh Đỗ Vương T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2023/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo bị kháng cáo: Phạm Văn H, sinh ngày 05 tháng 8 năm 1982; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và bà Vũ Thị N; có vợ là Nguyễn Thị H2 và hai con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 15-12-2022. Có mặt.

- Bị hại kháng cáo: Anh Đỗ Vương T, địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn H, anh Đỗ Vương T là hàng xóm, cùng làm nghề lái xe. Khoảng tháng 4-2022, anh T cho anh H vay nợ bằng lời nói với số tiền 50.000.000 đồng. Anh T đã nhiều lần đòi, nhưng Phạm Văn H khất lần, chưa trả số tiền nợ. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/8/2022, anh T đi bộ qua nhà H, thấy có nhiều người trong

nhà đang liên hoan. Anh T sang nhà Phạm Văn H để đòi tiền nợ. Lúc này, H đang tổ chức sinh nhật của mình tại nhà. Thấy anh T vào nhà gọi mình, H đi ra phía trước cửa nhà để nói chuyện. Anh T đứng đối diện, yêu cầu H phải trả tiền, không đồng ý cho H trả dần, rồi chửi H. T dùng tay đấm 01 nhát vào vùng má trái của H. Tuy bị đánh bất ngờ nhưng với lực đấm nhẹ, nên H không bị thay đổi vị trí. H sử dụng tay thuận là tay trái đấm vào thái dương phải, rồi sử dụng chân phải đạp vào bụng anh T, dẫn đến anh T bị ngã, rồi ngất trên mặt đường tỉnh lộ 360 theo hướng cầu Q đi ngã tư Q. H đi vào nhà nói cho vợ là Nguyễn Thị H2 biết, nên chị H2, vợ chồng chị H3 từ trong nhà ra chỗ anh T. Chị H2 thông báo cho vợ của anh T là chị Nguyễn Thị Thu H4 cùng một số người đưa anh T đi cấp cứu tại Bệnh viện H5, Hải Phòng, đến ngày 23/8/2022 thì anh T xuất viện.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 06-8-2022 thể hiện: Vị trí (1) T dùng tay đấm vào vùng thái dương bên trái Hiệu cách cống ven đường tỉnh lộ 360 là 3,8m; cách cửa ra vào nhà bà Nguyễn Thị L 3,4m; cách mép ranh giới bên trái 2,6m, cách mép ranh giới bên phải 1,7m. Vị trí (2) T dùng chân đá vào sườn trái Hiệu cách cống ven đường tỉnh lộ 360 là 2,3m, cách vị trí (1) là 2,66m. Vị trí (3) Hiệu dùng chân phải đạp vào bụng T nằm trên mặt cống ven đường tỉnh lộ 360 cách mép cống phía Bắc 0,5m, cách mép cống phía Nam 0,4m; khoảng cách vị trí (2)-(3) là 3,8m. Vị trí (4) T ngã ra đường, nằm trên mặt đường tỉnh lộ 360 theo hướng cầu Q đi ngã tư Q; cách mép cống là 0,73m; khoảng cách vị trí (3)-(4) là 1,68m. Rà soát hiện trường không phát hiện có dấu vết cày, trượt có liên quan đến vụ việc; không phát hiện, thu giữ dấu vết, đồ vật gì.

Tại Biên bản kiểm tra dấu vết thương tích trên cơ thể ngày 06/8/2022 xác định Phạm Văn H bị sưng lề nhẹ ở gò má trái gần mắt trái.

Bản giám định pháp y về thương tích số 496 ngày 07/11/2022 của Trung tâm P kết luận Đỗ Vương T có các thương tích: “Vỡ xương thái dương phải, đường vỡ đi qua xương đá phải; tụ máu dưới màng cứng và ngoài màng cứng phối hợp, xuất huyết dưới nhện không còn hình ảnh tổn thương; nghe kém nhẹ tai phải (di chứng vỡ xương đá phải). Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vỡ xương thái dương phải, đường vỡ đi qua xương đá phải gây nên là 20%; do tụ máu dưới màng cứng gây nên là 08%; do tụ máu ngoài màng cứng gây nên là 05%; do xuất huyết dưới nhện gây nên là 08%; do nghe kém nhẹ tai phải (di chứng vỡ xương đá phải) gây nên là 03%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên là 38%. Các thương tích có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2023/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Phạm Văn H 42 (bốn mươi hai) tháng tù

về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giam từ ngày 15 tháng 12 năm 2022.

Căn cứ vào Điều 590 của Bộ luật Dân sự, Phạm Văn H phải bồi thường cho anh Đỗ Vương T 60.600.000 đồng (sáu mươi triệu, sáu trăm nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại anh Đỗ Vương T có đơn kháng cáo về tội danh, tình tiết định khung, hình phạt và về tiền bồi thường thiệt hại đối với bị cáo Phạm Văn H.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo H trình bày hành vi phạm tội, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, việc xét xử đối với bị cáo là không oan. Bị hại giữ nguyên kháng cáo, bị hại khai khi đánh bị hại bị cáo có dùng hung khí là vật cứng bất ngờ đánh vào đầu bị hại chứ không phải là đấm bằng tay như bị cáo khai nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo về tội Giết người tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn H và đề nghị buộc bị cáo H phải bồi thường thiệt hại cho bị cáo số tiền 200.000.000 đồng.

* Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau: Xét kháng cáo của bị hại Đỗ Vương T là hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về tội danh bị cáo đánh bị hại 01 cái vào mặt khi bị hại ngã bị cáo đã bỏ đi không đánh tiếp nữa như vậy bị cáo không có ý thức tước đoạt sinh mạng của bị hại do vậy không có căn kết luận bị cáo phạm tội Giết người. Toà án cấp sơ thẩm kết luận bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích là có căn cứ đúng pháp luật. Về tình tiết định khung hình phạt tại phiên toà bị hại khai bị cáo dùng hung khí vật cứng đánh bị hại nhưng bị hại không cung cấp được chứng cứ chứng minh, ngoài lời khai của bị hại, tài liệu có trong hồ sơ không có căn cứ xác định bị cáo dùng hung khí đánh bị hại do vậy Toà sơ thẩm xét xử bị cáo theo điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật. Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xử phạt bị cáo Phạm Văn H mức án 42 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và buộc bị cáo H bồi thường cho bị hại 60.600.000 đồng là có căn cứ đúng pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm không xuất hiện tình tiết mới, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị hại Đỗ Vương T trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

* Xét kháng cáo của bị hại Đỗ Vương T :

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/8/2022, tại khu vực lề đường tỉnh lộ 360 đoạn trước ở thôn C, xã Q, huyện A, Phạm Văn H đã cố ý gây thương tích vào vùng thái dương phải, khiến cho anh Đỗ Vương T bị tổn thương cơ thể là 38%. Do vậy, hành vi của bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị hại đề nghị Toà án xử bị cáo về tội Giết người, Hội đồng xét xử xét giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn với nhau từ trước, bị cáo không có động cơ mục đích giết người nên khi bị cáo đánh bị hại 01 cái vào mặt, bị hại ngã bị cáo đã bỏ đi không đánh tiếp nữa. Như vậy bị cáo không có ý thức tước đoạt sinh mạng của bị hại, do đó không có căn kết luận bị cáo phạm tội Giết người. Toà án cấp sơ thẩm xử bị cáo về tội Cố ý gây thương tích là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Tại phiên toà phúc bị hại trình bày bị cáo H cầm vật cứng đánh vào thái dương bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo H về tội Giết người, áp dụng thêm tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm”, nhưng bị hại không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Ngoài lời khai của bị hại, tài liệu có trong hồ sơ không có căn cứ xác định bị cáo dùng hung khí đánh bị hại. Lời khai của bị cáo khẳng định bị cáo đã dùng tay đấm bị hại. Quá trình xảy ra sự việc không có người làm chứng trực tiếp, không có camera giám sát, chỉ có bị cáo và bị hại, không thu giữ được vật chứng gì liên quan đến hung khí.

Hơn nữa, thời điểm xảy ra là tối muộn khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/8/2022, tại khu vực phía trước cửa nhà bà L, giáp lề đường tỉnh lộ 360 ở thôn C, xã Q, huyện A, cường độ ánh sáng yếu do tán cây xanh trước cửa nhà bà L1, đèn cao áp và đèn cửa nhà H, ở xa khoảng 18,5m, đều bị che khuất. Vì vậy, lời khai của anh T về việc bị đánh vào đầu từ phía sau, rồi ngã xuống ngất không tỉnh trong 4 ngày, nhưng vẫn kịp nhìn thấy H cầm vật cứng, là không khách quan. Ngoài ra, căn cứ kết quả thực nghiệm, xem xét cụ thể về đặc điểm thể lực của bị cáo (cao 1,57m, cân nặng khoảng 70kg, làm nghề lái xe container nhiều năm, sử dụng tay thuận, với bắp tay khỏe mạnh, tay nắm đấm chắc chắn), tình huống bị cáo trình bày sử dụng tay thuận là tay trái đấm vào vùng thái dương phải của bị hại, được Giám định viên trực tiếp tham gia phiên tòa nhận xét là hoàn toàn có thể gây ra thương tích cho bị hại đã thể hiện trong hồ sơ vụ án, phù hợp kết luận giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể 38%.

Do vậy không có căn cứ xác định bị cáo đã dùng hung khi khi thực hiện hành vi phạm tội.

Căn cứ vào Kết luận giám định, Biên bản thực nghiệm điều tra, lời khai của bị cáo, bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo H đã

sử dụng tay thuận là tay trái đám vào vùng thái dương phải của bị hại đứng đối diện, gây ra các vết thương, tổn thương với tỷ lệ 38% phù hợp với Kết luận giám định. Nên hành vi của bị cáo Phạm Văn H đã phạm tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Toà án nhân dân huyện An Lão đã xét xử bị cáo Phạm Văn H về tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng quy định pháp luật.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại 20.000.000 đồng cho bị hại. Bản thân bị hại có một phần lỗi khi xử sự, lời nói, hành động đánh bị cáo trước. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét bị cáo Phạm Văn H có nhân thân chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Bị cáo cùng gia đình đã thanh toán toàn bộ tiền nợ của H vay anh T là 50.000.000 đồng nhằm hỗ trợ điều trị; tự nguyện bồi thường thiệt hại 20.000.000 đồng. Bản thân bị hại cũng có một phần lỗi khi xử sự, lời nói kích động, hành động đánh bị cáo trước, dẫn tới hành vi của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm, xử phạt bị cáo H 42 tháng tù là có căn cứ đúng quy định pháp luật. Tại phiên toà phúc thẩm bị hại không đưa ra được tình tiết, tài liệu gì mới. Do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại anh Đỗ Vương T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Anh Đỗ Vương T kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 200.000.000 đồng.

Xét chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của bị hại được bị cáo chấp thuận gồm: Tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc theo chỉ định của bác sỹ: 25.399.665 đồng.

Về thu nhập thực tế của anh T trong thời gian 19 ngày điều trị trong bệnh viện: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ thu nhập thực tế của bị hại làm nghề lái xe tự do bằng ô tô tải nhẹ của gia đình là 15.000.000 đồng, đã bảo đảm tính thực tế, không thiệt thòi cho bị hại.

Về thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bị hại là vợ của anh T làm nghề tự do, bán hàng quần áo, chăn đệm tại nhà là 6.000.000 đồng, phù hợp với thực tế.

Về tổn thất tinh thần: Tỉ lệ bị tổn thương cơ thể 38% x 50 tháng x 1.800.000 đồng/tháng = 34.200.000 đồng, bảo đảm tính hợp lý.

Như vậy, tổng mức bồi thường thiệt hại bị cáo Phạm Văn H phải bồi thường thiệt hại cho Đỗ Vương T là: 80.599.665 đồng, làm tròn số là 80.600.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định mức bồi thường thiệt hại là phù hợp đúng quy định pháp luật, do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm về trách nhiệm bồi thường dân sự. Bị cáo Phạm Văn H đã bồi thường 20.000.000 đồng, nên bị cáo H phải tiếp tục bồi thường cho anh T 60.600.000 đồng.

[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy các khoản bồi thường cho bị hại Toà án cấp sơ thẩm đã chấp nhận là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật và thực tế ở địa phương. Tại phiên toà phúc thẩm bị hại không xuất trình chứng cứ gì mới nên không có căn chấp nhận kháng cáo của bị hại anh Đỗ Vương T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[8] Về án phí: Bị hại anh Đỗ Vương T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[9] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Đỗ Vương T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Phạm Văn H 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 15 tháng 12 năm 2022.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 của Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Phạm Văn H phải bồi thường cho anh Đỗ Vương T 80.600.000 đồng (tám mươi triệu, sáu trăm nghìn đồng). Bị cáo đã bồi thường cho anh T 20.000.000 đồng nên phải bồi thường tiếp số tiền 60.600.000 đồng (sáu mươi triệu, sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền bồi thường trên bị cáo chưa thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án đến khi thi hành xong theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường

hợp pháp luật có quy định khác.

Anh Đỗ Văn T1 được nhận số tiền thanh toán bồi thường thiệt hại là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0005744 ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.030.000 đồng (ba triệu, không trăm ba mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị hại Đỗ Vương T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2023/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TPHP;
  • - VKSND huyện An Lão;
  • - PV06 Công an TPHP;
  • - Cơ quan CSĐT huyện An Lão;
  • - Cơ quan THAHS huyện An Lão;
  • - TAND huyện An Lão;
  • - Sở Tư pháp TP;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Trại tạm giam;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Văn Tỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2023/HS-PT ngày 06/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 167/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger