Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2024/HS-ST

Ngày 06-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Sóng

Ông Doãn Văn Sáng.

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 140/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 152/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lò Văn P, sinh ngày 09 tháng 02 năm 1991 tại tỉnh Điện Biên; nơi ĐKHKTT: Bản C, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; nơi sinh sống: Thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn I và bà Cà Thị M; có vợ là Lường Thị T và 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 19/4/2024 cho đến ngày 25/4/2024 chuyển sang tạm giam. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn P: Ông Phạm Duy K - Trợ giúp viên Pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Vũ Trung H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 19/4/2024, tại khu vực ký túc xá Dự án đảo V thuộc thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, Công an huyện T kết hợp với Đồn Công an khu Công nghiệp Vsip và Công an xã T phát hiện Lò Văn P có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, lực lượng Công an đã thu tại túi quần phía trước bên phải của Phóng 14 gói nilon chứa chất bột màu trắng (nghi chất ma túy). Tổ công tác đã đưa P cùng vật chứng về trụ sở Công an xã T lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Khám xét nơi ở của P tại ký túc xá Dự án đảo V không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 486/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của Phòng K1 C kết luận: 14 gói nilon chứa chất bột màu trắng thu của P có khối lượng 0,58 gam, loại heroine.

Tại Cơ quan điều tra Lò Văn P khai: do nghiện ma túy nên P nảy sinh ý định bán ma túy để kiếm lời. Phóng đã bán ma túy cho nhiều người nhưng không biết người mua là ai, ở đâu. Khoảng 11 giờ ngày 19/4/2024, P tiếp tục đến khu vực vệ sinh ký túc xá Dự án đảo V mua của người đàn ông không quen biết 12 gói heroine với giá 1.200.000 đồng để bán, người này cho thêm Phóng 02 gói heroine, tổng được 14 gói. Phóng cất ma túy vào túi quần rồi đi về lán nghỉ ký túc xá mục đích bán cho người có nhu cầu với giá 150.000 đồng/gói, khi đi được 50m thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì giấy, dấu niêm phong số 486MT/PC09 (trong chứa 0,46 gam heroine cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định) chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên.

Trong vụ án này, quá trình điều tra không chứng minh được tên tuổi, địa chỉ của đối tượng mua ma túy của P và đối tượng bán ma túy cho P nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 159/CT-VKSTN ngày 30 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo Lò Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn P khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, ngoài ra bị cáo Lò Văn P khai: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng, tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn P như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn P từ: 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2024.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lò Văn P.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy, dấu niêm phong số 486MT/PC09 (trong chứa 0,46 gam heroine cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định).

Về án phí: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn P theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý - Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn P:

Về tội danh, tình tiết định khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát. Ngoài tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc dân tộc thiểu số, ở khu vực kinh tế khó khăn. Lượng ma tuý bị cáo mua bán ít, hành vi mua bán nhỏ lẻ, không có quy mô, chưa gây hậu quả nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận bị cáo có hành vi như sau: Do nghiện ma tuý nên Lò Văn P nảy sinh ý định mua bán ma túy để kiếm lời. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 19/4/2024, Lò Văn P đến khu vực vệ sinh ký túc xá Dự án đảo V mua của một người đàn ông không quen biết 1.200.000 đồng được 0,58 gam ma túy là loại Heroine, để bán trái phép cho người khác thì bị bắt quả tang. Chính vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[3] Khối lượng ma tuý mà bị cáo Lò Văn P mua bán trái phép 0,58 gam ma túy Heroine. Mặc dù, bị cáo Lò Văn P khai trước đó đã bán ma tuý cho nhiều người nhưng quá trình điều tra không chứng minh được tên tuổi, địa chỉ của đối tượng mua ma túy của Lò Văn P nên bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Về nhân thân: Bị cáo Lò Văn P không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là đối tượng thuộc hộ nghèo, là người thuộc dân tộc thiểu số và sống ở khu vực đặc biệt khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo. Đối với tình tiết “phạm tội lần đầu”, đã được Hội đồng xét xử đánh giá tại phần nhân thân của bị cáo, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý đề nghị áp dụng tình tiết “phạm tội lần đầu” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Lò Văn P.

- Về hình phạt:

[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử cân nhắc khi xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và điều kiện hoàn cảnh của bị cáo (bị cáo thuộc hộ nghèo, dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lò Văn P.

- Về vật chứng:

[10] Đối với 01 phong bì giấy, dấu niêm phong số 486MT/PC09 (trong chứa 0,46 gam heroine cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định). Hội đồng xét xử xét: Ma túy là vật cấm lưu hành, sử dụng trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Về án phí:

[11] Bị cáo thuộc hộ nghèo, là dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo đề nghị miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn P.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn Phóng 3 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì giấy, dấu niêm phong số 486MT/PC09 (trong chứa 0,46 gam heroine cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định).

(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên).

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn P.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Bị cáo Lò Văn P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thủy Nguyên;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Thủy Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: VT; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tội mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 167/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Phóng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger