Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2024/HS- ST

Ngày: 05/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Kiên.

Bà Lò Thị Thanh Bình.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân

huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham

gia phiên toà: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 164/2024/TLST- HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2024/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với Bị cáo:

1. Họ và tên: Lường Văn T; sinh năm: 2002, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lường Văn T1; sinh năm 1982; Con bà: Lò Thị T2; sinh năm 1983; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án (Ngày 07/9/2022 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 236/2022/HSST, ngày 07/9/2022. Ngày 26/8/2023 Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương sinh sống nhưng chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2024 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 20/3/2024, Lường Văn T đi bộ từ nhà tại Bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên và mang theo số tiền 100.000 đồng, mục đích đi tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đi đến khu vực cuối bản Na Hai, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì Bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (Bị cáo không biết tên, địa chỉ), Bị cáo hỏi người đàn ông “Có Heroine bán không? Người đàn ông trả lời: “Có, mua bao nhiêu thì đưa tiền đây?”, Bị cáo nói “bán cho 100.000 đồng” đồng thời Bị cáo lấy ra 100.000 đồng đưa cho người đàn ông đó. Sau đó người đàn ông cầm tiền rồi đưa cho Bị cáo 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng miệng gói được hơ lửa hàn kín. Bị cáo cầm lấy xem qua và biết bên trong là các cục bột Heroine rồi đồng ý mua. Bị cáo cầm gói ma túy vừa mua được ở trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà. Đang trên đường về thuộc bản N, xã P, huyện Đ thì bị tổ công tác Công an xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên kiểm tra phát hiện, thu giữ tại tay trái của Bị cáo đang cầm 01 Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng, miệng gói được hơ lửa hàn kín bên trong là H. Tại chỗ Bị cáo khai nhận số cục bột màu trắng đó là Heroine của Bị cáo mua về để sử dụng, ngoài ra không phát hiện gì khác. Tổ công tác mời người chứng kiến đến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng, sau đó hoàn tất các thủ tục tổ công tác xã P, huyện Đ đã bàn giao Bị cáo cùng toàn bộ vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên để điều tra làm rõ.

Ngày 20/3/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Lường Văn T như sau: Các cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là: 0,16 gam gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 581/KL- KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Lường Văn T giám định là chất ma túy: loại Heroine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 0,12 gam.

Tại bản cáo trạng số: 104/CT-VKSHĐB ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Lường Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Bị cáo: Từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy: 0,12 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu hồng dùng gói ma tuý đã hết giá trị sử dụng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 09 giờ 00 ngày 20/3/2024 tại khu vực bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên Bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép 0,16 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

c) Heroine.....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.

[2] Về tính chất của vụ án:

Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, của Bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên, đi học đến lớp 8/12 sau đó nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không.

- Về tình tiết tăng nặng: Ngày 07/9/2022 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 236/2022/HSST, ngày 07/9/2022. Ngày 26/8/2023 Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương sinh sống. Bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới, chính vì vậy Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngày 20/3/2024 Bị cáo bị Công an xã P, huyện Đ bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của Bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của Bị cáo là làm ruộng, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án gồm: 0,12 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định, vật Nhà nước cấm tàng trữ và 01 mảnh nilon màu hồng dùng gói ma tuý đã hết giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

[6] Các vấn đề khác:

Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi do Bị cáo không biết tên đầy đủ, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan CSĐT không đủ cơ sở, tài liệu làm căn cứ để điều tra, xác minh. Cơ quan điều tra công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt Bị cáo: 01 năm 08 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (20/3/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

* Tịch thu tiêu hủy: 0,12 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định, vật Nhà nước cấm tàng trữ và 01 mảnh nilon màu hồng dùng gói ma tuý đã hết giá trị sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/7/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Nhà tạm giữ CAHĐB;
  • - VKSND H. Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT CAHĐB;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Chi cục THADS HĐB;
  • - Toà án ND tỉnh Điện Biên;
  • - Bộ phận HSNV C.an HĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Tố Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2024/HS- ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 167/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 01 năm 08 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger