|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 167/2024/DS-ST Ngày 01 - 7 - 2024 V/v Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Trọng Tâm.
Ông Huỳnh Hoàng Khởi
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Kiều là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần CN
Địa chỉ trụ sở: đường N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Ngọc Q – chức vụ: Nhân viên Công ty Cổ phần CN, chi nhánh Cà Mau;
Địa chỉ cư trú: đường T, khóm S, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Anh Lý Xà H; sinh ngày: 01/01/2000 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: đường T, khóm H, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn trình bày: Ngày 26/6/2023 anh Lý Xà H đến Công ty cổ phần CN, chi nhánh Cà Mau để ký hợp đồng cầm cố tài sản số CMM230602008NA20X. Tài sản cầm cố là chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision 110cc Fi, biển số 69B1 - 62663, màu: Trắng đen, số khung RLHIF5831LZ004105, số máy JF86E7004124, giấy chứng nhận đăng ký xe số 009745 do Công an tỉnh Cà Mau cấp ngày 29/11/2021 với số tiền nhận cầm cố là 15.400.000 đồng, thời hạn cầm cố 12 tháng với mức lãi suất 1,1%/tháng. Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền 15.400.000 đồng cho anh H. Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký giấy cho anh H mượn lại xe sử dụng. Trong giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ ngày 26/6/2023 đến ngày 26/6/2024, địa điểm trả xe là tại chi nhánh Cà Mau. Anh H có cam kết rõ trong giấy mượn xe là hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận.
Quá trình trả nợ, anh H chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng đã ký, đến nay đã quá hạn hợp đồng, anh H không trả nợ và không trả lại xe cho Công ty. Nay Công ty khởi kiện yêu cầu anh H phải thanh toán số tiền nợ gốc 15.400.000 đồng và lãi, phí tạm tính đến ngày 15/01/2024 là 21.934.000 đồng (trong đó: Lãi 1.185.800 đồng, phí 5.347.235 đồng) và chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký kể từ ngày 15/01/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp anh H không thanh toán được số tiền trên thì yêu cầu anh H phải thực hiện nghĩa vụ trả lại xe hiệu Honda Vision 110cc Fi, biển số 69B1 - 62663 theo hợp đồng cầm cố, kèm giấy mượn xe đã ký với Công ty.
Tại phiên tòa: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu anh Lý Xà H trả số tiền (gốc) cầm cố xe còn nợ 15.400.000 đồng và lãi suất 1,1%/tháng tính từ ngày chậm thực hiện nghĩa vụ đến ngày xét xử là 12 tháng 05 ngày với số tiền lãi 2.061.000 đồng. Ngoài ra, không yêu cầu gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định Điều 26 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để xét xử nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi một phần nội dung yêu cầu khởi kiện là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung: Ngày 26/6/2023 anh Lý Xà H có ký hợp đồng với Công ty cổ phần CN để cầm cố tài sản của anh H là chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision 110cc Fi, biển số 69B1 – 62663, giấy chứng nhận đăng ký xe số 009745 do Công an tỉnh Cà Mau cấp, ngày 29/11/2021 đứng tên Lý Xà H với số tiền 15.400.000 đồng, thời hạn cầm cố 12 tháng với mức lãi suất 1,1%/tháng, trả vốn lãi hàng tháng. Sau khi ký hợp đồng cầm cố thì cùng ngày Công ty đã cho anh H mượn lại xe sử dụng, có làm giấy mượn xe. Quá trình thực hiện nghĩa vụ, anh H không trả cho Công ty bất kỳ khoản tiền vốn và lãi cho đến nay.
Đối với anh Lý Xà H đã được Tòa án tống đạt văn bản hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án. Do đó, căn cứ vào hợp đồng cầm cố xe được ký giữa Công ty cổ phần CN với anh H ngày 26/6/2023 và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, xét yêu cầu của Công ty cổ phần CN buộc anh H trả số tiền nợ gốc 15.400.000 đồng là có căn cứ, được chấp nhận.
Xét yêu cầu về lãi suất áp dụng mức lãi suất theo hợp đồng 1,1%/tháng là phù hợp với quy định. Số tiền lãi anh H phải trả cho Công ty cổ phần CN khi vi phạm hợp đồng tính đến ngày xét xử là: 12 tháng 05 ngày x 1,1%/tháng x 15.400.000 đồng = 2.061.000 đồng (làm tròn). Tổng vốn và lãi anh Lý Xà H có trách nhiệm trả cho Công ty cổ phần CN là 17.461.000 đồng.
Công ty cổ phần CN có nghĩa vụ trả lại cho anh Lý Xà H bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe số 009745 do Công an tỉnh Cà Mau cấp ngày 29/11/2021 đứng tên Lý Xà H khi anh H đã thanh toán xong nợ cho Công ty.
[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên Công ty cổ phần CN không phải chịu án phí, đã qua có dự nộp nên được nhận lại. Anh Lý Xà H phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, 35, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 309, 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần CN. Buộc anh Lý Xà H hoàn trả cho Công ty cổ phần CN với tổng số tiền 17.461.000 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người bị thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Buộc Công ty cổ phần CN trả lại cho anh Lý Xà H bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe số 009745 do Công an tỉnh Cà Mau cấp ngày 29/11/2021 đứng tên Lý Xà H khi anh H đã thanh toán xong nợ cho Công ty.
- Về án phí dân sự có giá ngạch:
- - Công ty cổ phần CN không phải chịu án phí. Ngày 26/01/2024 Công ty cổ phần CN có nộp tạm ứng án phí 548.000 đồng theo biên lai số 0008008 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại toàn bộ khi án có hiệu lực.
- - Anh Lý Xà H phải chịu án phí 873.000 đồng (chưa nộp).
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Thu |
Bản án số 167/2024/DS-ST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
- Số bản án: 167/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần CN. Buộc anh Lý Xà H hoàn trả cho Công ty cổ phần CN với tổng số tiền 17.461.000 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn đồng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người bị thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
