|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 167/2025/HS-ST Ngày: 27 - 06 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh.
Thư ký phiên tòa: ông Lê Trung Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Khổng Sơn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP. xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 162/2025/HSST ngày 02 tháng 06 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 06 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T; sinh năm 1989, tại: Bắc Ninh; Nơi đăng ký NKTT: thôn K, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; chổ ở hiện nay: căn hộ D, chung cư S, phường S, quận T, TP.; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1966 và bà Khúc Thị N, sinh năm 1970; chồng: Nguyễn Đình T1, sinh năm 1983; con: 05 người (Lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2024).
- Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 05/06/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Phân trại tạm giam khu vực T) Công an T6 và có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
- Chị Lý Thị T2, sinh năm 1997; trú tại: số G đường C, phường A, TP., TP. (Có mặt).
- Chị Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1988; trú tại: A T, phường D, quận H, Tp. (Có mặt).
- Chị Đào Thị Ngọc H1, sinh năm 1992; trú tại: P Chung cư T, số A N, phường Đ, quận A, TP. (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Hoàng Thị Xuân D, sinh năm 1979; trú tại: 7 T - T, phường B, quận B, TP. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có thu nhập ổn định, Trần Thị T3 đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng cách cung cấp thông tin gian dối tìm cơ hội để chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra, Trần Thị T3 đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của 03 người bị hại cụ thể như sau:
Bị hại Lý Thị T2 bị Nguyễn Thị T chiếm đoạt số tiền 98.500.000 đồng:
Vào khoảng tháng 02/2023, chị Lý Thị T2 là nhân viên học nghề dưỡng sinh đông y tại cơ sở A, địa chỉ A G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh do Nguyễn Thị T là chủ, quá trình học nghề, chị T2 kể cho T nghe về việc em chồng của chị T2 là Trần Đăng K1 đang bị bắt tạm giam tại Công an tỉnh B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, chị T2 đang tìm người giúp để K1 được thi hành án phạt tù tại tỉnh Bắc Ninh hoặc tỉnh Bắc Giang để gia đình tiện thăm nuôi, mặc dù không quen biết ai làm ở Công an tỉnh B nhưng T vẫn tự nhận có người nhà làm ở Công an tỉnh B có thể giúp và yêu cầu T2 chuẩn bị 100.000.000 đồng để T lo việc, nếu không em chồng chị T2 sẽ chuyển tới trại giam ở tỉnh Thanh Hóa để thi hành án. Sau đó, đến ngày 05/4/2023, để tạo sự tin tưởng với chị T2 thì T có gửi 01 hình ảnh chuyển 60.000.000 đồng đến tài khoản số 20412287 mang tên Nguyen T4 Hong Luu mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A1) và nói với chị T2 đây là tiền T ứng trước cho gia đình T2 vì sợ lỡ việc, thực tế số tiền trên mua bán hàng hóa liên quan tới hoạt động kinh doanh của T. Vì tin tưởng nên chị T2 đã nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản số [...] của Nguyễn Thị T mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 (V), tổng số tiền là 102.000.000 đồng, bao gồm 100.000.000 đồng tiền chị T2 gửi cho T để lo việc cho em chồng chị T5, số tiền 2.000.000 đồng là tiền Thúy vay mượn của chị T2. Số tiền trên T đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi T nhận tiền, em chồng T2 vẫn phải chấp hành án tại trại giam tại tỉnh Thanh Hóa nên chị T2 đã liên lạc yêu cầu T trả lại tiền, tuy nhiên đến ngày 18/10/2023, T chỉ trả cho chị T2 số tiền 1.500.000 đồng, số tiền còn lại là 98.500.000 đồng, T không trả lại cho gia đình chị T2, ngắt liên lạc. Khi chị T2 đến địa chỉ A G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì được biết T không còn thuê nên chị T2 đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T để trình báo vụ việc.
Bị hại Nguyễn Hoàng H bị Nguyễn Thị T chiếm đoạt số tiền 80.000.000 đồng:
Khoảng đầu tháng 6/2024, chị Nguyễn Hoàng H là quen biết với Nguyễn Thị T có nhu cầu vay tiền nên đã hỏi T có thể vay tiền qua thẻ tín dụng không, mặc dù không phải nhân viên ngân hàng nhưng T vẫn trả lời là được. Khoảng 17 giờ, ngày 10/6/2024, T hẹn chị H tại quán cà phê tại địa chỉ B Chung cư S, phường S, quận T, tại đây, chị H nhờ T làm 01 thẻ tín dụng mới thì T đồng ý và nói chi phí làm thẻ là 11.000.000 đồng, trong thời hạn 10-15 ngày làm việc, điều kiện để làm thì trong thẻ tín dụng phải còn 50% đến 70% tiền so với hạn mức, toàn bộ điều kiện này do T tự nghĩ ra, bản thân T không nắm được điều kiện để mở thẻ tín dụng của ngân hàng và không có người quen có thể cấp mới được thẻ tín dụng, mục đích T nói điều kiện vậy để H tin tưởng giao tiền cho T. Do biết chị H đang nợ thẻ tín dụng là 105.000.000 đồng nên T nói với chị H chuyển 50.000.000 đồng cho T để trả nợ thẻ nhưng thực tế là nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền này. Để chị H tin tưởng, T đã liên hệ với tài khoản Zalo “Hoài Thương” (không rõ lai lịch) yêu cầu nạp vào tài khoản tín dụng số 5130949911345486 mang tên Phan Minh Q mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (V1) của chồng chị H số tiền 110.000.000 đồng để đáo hạn nợ thẻ tín dụng, rồi sau đó T đã rút toàn bộ số tiền trên. Thấy thẻ tín đã được nạp tiền và đáo hạn nợ nên chị H đã tin tưởng đồng ý chuyển cho T số tiền 50.000.000 đồng.
Đến ngày 18/6/2024, chị Nguyễn Hoàng H đến gặp Nguyễn Thị T tại địa chỉ B chung cư S, phường S, quận T, tại đây chị H đưa cho T 01 thẻ tín dụng số 5138920000975949 mang tên Nguyễn Hoàng H mở tại Ngân hàng V1, đang nợ thẻ tín dụng 85.000.000 đồng và nhờ T làm thêm 01 thẻ tín dụng nữa thì T đồng ý. T yêu cầu chị H chuyển trước cho T số tiền 30.000.000 đồng thì chị H đồng ý. Với thủ đoạn tương tự, T đã chiếm đoạt của chị H số tiền 30.000.000 đồng.
Ngày 22/6/2024, khi biết chị Nguyễn Hoàng H chưa có việc làm, Nguyễn Thị T nói với chị H là chồng của T có quen với lãnh đạo cảng C sẽ xin việc cho chị H làm tại cảng (thực tế là anh Nguyễn Đình T1 chồng của T không biết và không quen lãnh đạo cảng C) sẽ xin việc cho chị H làm tại cảng C, đồng thời yêu cầu chị H đưa 50.000.000 đồng làm chi phí xin việc. Tin tưởng chị H đã đưa trước cho T số tiền 20.000.000 đồng và 4.000.000 đồng tiền mua quà để xin việc. Sau đó, chị H nhiều lần hỏi T khi nào có thẻ tín dụng và việc làm thì T đưa ra nhiều lý do để kéo dài thời gian. Đến ngày 08/7/2024, chưa nhận được thẻ tín dụng, chưa xin được việc nên chị H yêu cầu T trả lại cho chị H tổng số tiền 104.000.000 đồng để T làm thẻ tín dụng và xin việc thì T nhiều lần hứa hẹn nhưng chỉ trả lại cho chị H số tiền 24.000.000 đồng, còn lại 80.000.000 đồng, T không trả nữa, nên chị H đã đến Công an phường S, quận T để trình báo vụ việc.
Bị hại Đào Thị Ngọc H1 bị Nguyễn Thị T chiếm đoạt số tiền 61.000.000 đồng:
Ngày 16/8/2024 và 18/8/2024 Nguyễn Thị T không có tiền tiêu xài, nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng cách đặt mua tổng cộng 400 thùng nước giặt hiệu Herbal Premium (một thùng 04 túi nước giặt, mỗi túi trọng lượng 03 lít) của chị Đào Thị Ngọc H1 với giá 81.000.000 đồng, giao hàng tại địa chỉ D Chung cư S, phường S, quận T. Thúy thanh toán cho chị H1 10.000.000 đồng, còn 61.000.000 đồng, T hẹn đến ngày 20/8/2024 sẽ thanh toán cho chị H1 nhưng không trả. Sau đó, T đã bán lại 400 thùng nước giặt trên với giá rẻ cho chị Hoàng Thị Xuân D với giá 33.600.000 đồng, nhưng không thanh toán tiền cho chị H1. Do không nhận được tiền thanh toán nên chị H1 đã đến Công an phường S để trình báo.
Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự quận T, kết luận:
“- 400 (bốn trăm) thùng nước giặt Herbal Premium (một thùng 04 túi nước giặt, mỗi túi trọng lượng 03 lít), thời điểm định giá tháng 8/2024, trị giá 81.000.000 đồng”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T6, Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, số Imei: 353289071798450 (đã qua sử dụng), là điện thoại thu giữ của Nguyễn Thị T.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu hồng, số Imei: 354829097542678 (đã qua sử dụng), là điện thoại thu giữ của Nguyễn Thị T.
- - Số tiền 16.000.000 đồng là tiền chênh lệch sau khi bán 400 (bốn trăm) thùng nước giặt Herbal Premium do chị Hoàng Thị Xuân D tự nguyện giao nộp.
Hiện đang nhập kho theo Lệnh nhập kho vật chứng số 8332/LNK-VPCQCSĐT ngày 28/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T6 (Bút lục số 480).
* Về trách nhiệm dân sự:
- - Chị Lý Thị T2 yêu cầu Nguyễn Thị T bồi thường số tiền 98.500.000 đồng, bị cáo hiện nay chưa bồi thường.
- - Chị Nguyễn Hoàng H yêu cầu Nguyễn Thị T bồi thường số tiền 80.000.000 đồng, bị cáo hiện nay chưa bồi thường.
- - Chị Đào Thị Ngọc H1 yêu cầu Nguyễn Thị T bồi thường số tiền 61.000.000 đồng, bị cáo hiện nay chưa bồi thường.
- - Chị Hoàng Thị Xuân D không có yêu cầu bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số: 172/CT-VKSQ.TP ngày 30 tháng 05 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên Tòa:
- - Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý phần dân sự và vật chứng.
- - Bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 08 năm đến 09 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại, lời khai người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định:
Vào ngày 05/4/2023, tại địa chỉ A G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị T mặc dù không có chức năng quyền hạn, không quen biết ai có khả năng giúp cho Trần Đăng K1 là em chồng chị Lý Thị T2 được chấp hành án ở gần nhà, nhưng T vẫn đưa thông tin gian dối làm chị T2 tin tưởng là T có thể giúp K1 nên chị T2 đã đưa cho T số tiền 100.000.000 đồng. Khi phát hiện bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chị T2 đã yêu cầu T trả tiền, thì T chỉ trả cho chị T2 1.500.000 đồng, còn lại 98.500.000 đồng thì T chiếm đoạt không trả lại.
Vào ngày 10/6/2024, tại địa chỉ B Chung cư S, phường S, quận T, Nguyễn Thị T mặc dù không có chức năng quyền hạn, không quen biết ai có khả năng làm thẻ tín dụng và xin việc tại Cảng C, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng T đã đưa thông tin gian dối có khả năng làm thẻ tín dụng và xin việc cho chị Nguyễn Hoàng H, chị H tin tưởng nên đã đưa cho T số tiền 104.000.000 đồng. Khi phát hiện bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chị H đã yêu cầu T trả tiền, thì T chỉ trả cho chị H 24.000.000 đồng, còn lại 80.000.000 đồng thì T chiếm đoạt không trả lại.
Ngoài ra, vào ngày 16/8/2024 và 18/8/2024, tại địa chỉ D Chung cư S, phường S, quận T, Nguyễn Thị T dùng thủ đoạn gian dối, đặt mua tổng cộng 400 thùng nước giặt hiệu Herbal Premium (một thùng 04 túi nước giặt, mỗi túi trọng lượng 03 lít) của chị Đào Thị Ngọc H1 với giá 81.000.000 đồng, sau khi trả cho chị H1 20.000.000 đồng tiền mua hàng hóa, T đã bán rẻ lại số nước giặt trên cho chị Hoàng Thị Xuân D với giá 33.600.000 đồng, nhưng không thanh toán tiền cho chị H1. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 61.000.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Thị T đã chiếm đoạt của các bị hại là 239.500.000 đồng.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Thị T đã phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp: “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”; Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng số: 172/CT-VKSQ.TP ngày 30 tháng 05 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- - Chị Lý Thị T2 yêu cầu Nguyễn Thị T bồi thường số tiền 98.500.000 đồng. Chị Nguyễn Hoàng H yêu cầu Nguyễn Thị T bồi thường số tiền 80.000.000 đồng. Chị Đào Thị Ngọc H1 yêu cầu Nguyễn Thị T bồi thường số tiền 61.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của những người bị hại. Xét thấy, việc thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và những người bị hại là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- - Chị Hoàng Thị Xuân D không có yêu cầu bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, số Imei: 353289071798450 (đã qua sử dụng), là điện thoại thu giữ của Nguyễn Thị T sử dụng cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu hồng, số Imei: 354829097542678 (đã qua sử dụng), là điện thoại thu giữ của Nguyễn Thị T để làm phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền 16.000.000 đồng là tiền chênh lệch sau khi bán 400 (bốn trăm) thùng nước giặt Herbal Premium do chị Hoàng Thị Xuân D tự nguyện giao nộp. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc bồi thường cho chị Đào Thị Ngọc H1.
[8] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí 200.000 đồng hình sự sơ thẩm và 11.975.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị T 09 (C) năm tù về tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 05/06/2025.
[3] Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Lý Thị Thu S tiền: 98.500.000 đồng.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Hoàng H số tiền: 80.000.000 đồng.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Đào Thị Ngọc H1 số tiền: 61.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
[4] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu hồng, số Imei: 354829097542678 (đã qua sử dụng).
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, số Imei: 353289071798450 (đã qua sử dụng).
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền 16.000.000 đồng để đảm bảo cho việc bồi thường cho chị Đào Thị Ngọc H1.
Hiện đang nhập kho theo Lệnh nhập kho vật chứng số 8332/LNK-VPCQCSĐT ngày 28/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T6.
[5] Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 11.975.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị T, những người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thành |
Bản án số 167/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 167/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
