Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2025/HS-PT
Ngày: 21-6- 2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒ A ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Minh Phượng
Ông Nguyễn Văn Thọ
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2025/TLPT-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Võ Thanh T, do có kháng cáo của bị cáo Võ Thanh T và người đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Bị cáo có kháng cáo: Võ Thanh T, sinh ngày 13/9/1976 tại T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn P, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: thợ cop-pha, trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Bị cáo con ông Võ Thanh D và bà Trần Thị R; có vợ là Đặng Thị Kim C và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1999 và con nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 10/4/2018, bị Công an huyện T, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, chấp hành nộp phạt vào ngày 28/12/2018.

Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm: 1968; địa chỉ: Tổ G, phường T, quận S, Thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/3/2023, Liên danh Công ty Cổ phần X (do Vũ Hoàng T1 là Giám đốc) và Công ty TNHH X1 đã ký kết Hợp đồng thi công xây dựng số: 2003/2023/HĐKT về việc cung cấp nhân công thi công xây dựng phần thô, Dự án: Nhà máy sản xuất, xuất nhập khẩu bít tất, địa chỉ: Lô G, khu Công nghiệp Đ - Đ, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam với Công ty TNHH D1. Khi hợp đồng được ký kết thì Vũ Hoàng T1 là người được ủy quyền chịu hoàn toàn trách nhiệm bên Nhà thầu. Sau đó, đến tháng 4 năm 2023, Vũ Hoàng T1 đã đại diện Nhà thầu - cụ thể là Công ty Cổ phần X ký hợp đồng giao khoán số: 04/2023/HĐGK-PH, giao hạng mục: Thi công coppha, Công trình: Khối văn phòng làm việc, thuộc Dự án: Nhà máy S1, địa chỉ: Lô G, khu Công nghiệp Đ - Đ, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam cho Võ Thanh T thực hiện.

Sau khi ký hợp đồng với Vũ Hoàng T1 thì Võ Thanh T đã nhận ông Trần Duy L1 (sinh năm: 1964, địa chỉ: tổ G, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng) là người lao động tự do thực hiện công việc đóng coppha tại công trình: Khối văn phòng làm việc thuộc Dự án: Công ty TNHH D1 - Chi nhánh Q, nhưng không có hợp đồng lao động. Bên cạnh đó, Công ty TNHH D1 cũng đã ký kết Hợp đồng tư vấn giám sát xây dựng công trình số: 0712/2022/HĐGS/CĐT-LHT ngày 12/12/2022 với Công ty TNHH T3.Design đối với Công trình: Nhà máy sản xuất xuất khẩu bít tất, hạng mục: Khối văn phòng làm việc, địa chỉ: Lô G, khu Công nghiệp Đ - Đ, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Trách nhiệm của Công ty TNHH T3.Design theo hợp đồng đã ký kết, trong đó có nội dung kiểm tra và báo cáo Chủ đầu tư về điều kiện, biện pháp đảm bảo an toàn lao động trong giai đoạn chuẩn bị thi công xây dựng. Vào khoảng 15 giờ 20 phút, ngày 22/8/2023, ông Trần Duy L1, trong lúc làm việc tại công trình: Khối văn phòng làm việc, thuộc Dự án: Công ty TNHH D1 - Chi nhánh Q thì bị vấp và té ngã từ tầng 2; ở độ cao 9,1 mét xuống nền bê tông tầng trệt bị đa chấn thương, dẫn đến tử vong.

Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường xảy ra vụ việc thuộc công trình xây dựng của Công ty TNHH D1, Chi nhánh Q, địa chỉ: Lô G, khu Công nghiệp Đ - Đ, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Công trình này gồm các hướng tiếp giáp: phía Bắc tiếp giáp với Công ty Cổ phần T4 và đường số E, phía Nam tiếp giáp với Công ty TNHH D2, phía Đông tiếp giáp với nhà kho UID, phía Tây tiếp giáp với Công ty TNHH S2. Xung quanh công trình đang thi công có hàng rào bảo vệ bằng xi măng kiên cố và có một lối ra vào nằm ở hàng rào hướng B, đoạn tiếp giáp với đường số E. Theo hướng từ ngoài vào trong ghi nhận công trình được chia thành 4 khu vực, gồm: 2 dãy nhà đang trong quá trình xây dựng nằm lần lượt theo hướng từ Đông sang T và gần sát với hàng rào hướng Bắc, 2 dãy nhà còn lại đã được xây dựng xong và nằm lần lượt theo hướng từ Đ sang Tây gần sát với hàng rào hướng N. Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn thuộc dãy nhà đang xây dựng ở hướng Đông Bắc của Công ty, dãy nhà này có 3 tầng, gồm: tầng trệt, tầng 1 và tầng 2. Trong đó, khoảng cách giữa tầng 1 và tầng trệt là 5,8 mét, khoảng cách giữa tầng 1 và tầng 2 là 4 mét, khoảng cách giữa tầng trệt và tầng 2 là 9,1 mét. Tiến hành khám nghiệm chi tiết theo hướng từ Bắc sang N, từ Đ sang T, từ dưới lên trên lần lượt phát hiện và ghi nhận: Vị trí đánh dấu số 1 là vị trí tâm dấu vết màu nâu đỏ (nghi là máu) đã được phủ cát lên trên, diện tổng thể (0,9x0,8) mét. Tâm dấu vết này tương ứng tại vị trí cách tường Đông 2 mét và cách mép sân bê tông thuộc tầng trệt ở hướng Bắc 5,55 mét. Vị trí đánh dấu số 2 là vị trí phát hiện 1 mũ bảo hộ lao động màu cam trong tình trạng phần quai nón bị móc ngược lên phía trên của mũi nón.

* Kết luận giám định pháp y tử thi số 201.23/KLGĐTT-KTHS(PY) ngày 06/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q đối với ông Trần Duy L1: Các kết quả chính

+ Vùng đỉnh - trán - thái dương - má bên phải có nhiều vết sây sát da và bầm máu trên diện 13x9 cm; tụ máu dưới da vùng trán - thái dương - má bên phải; vỡ xương trán bên phải, qua vết vỡ xương chảy máu và dịch não tủy; vỡ xương gò má phải.

+ Tràn khí dưới da cổ và ngực hai bên; mặt trước ngực giữa và trái có nhiều vết sây sát da và bầm máu trên diện 17x5 cm; gãy kín cung trước các xương sườn 2, 3, 4 bên phải và gãy kín cung trước các xương sườn 2, 3, 4, 5, 6 bên trái; tràn máu tràn khí khoang màng phổi trái.

Kết luận: Nguyên nhân ông Trần Duy L1 chết: Đa chấn thương (chấn thương sọ não kín, chấn thương ngực kín).

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Võ Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 295; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Võ Thanh T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Võ Thanh T 10.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 20/2/2025, bị cáo Võ Thanh T có đơn kháng cáo xin hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

Ngày 14/3/2025, bị cáo Huỳnh Thị L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, áp dụng hình phạt tiền hoặc miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Thanh T về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 295 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo 09 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả là 10.000.000 đồng và 200.000 đồng án phí; bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có giấy xác nhận của địa phương có hoàn cảnh khó khăn. Đây là tình tiết mới phát sinh nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thanh T cũng như đại diện hợp pháp của bị hại, giảm một phần hình phạt cho bị cáo là 03 tháng tù. Bị cáo không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Võ Thanh T và người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: Để thực hiện hợp đồng giao khoán với Công ty Cổ phần X, bị cáo Võ Thanh T có thực hiện việc tuyển dụng ông Trần Duy L1 vào làm việc tại công trình. Tuy nhiên, việc tuyển dụng giữa bị cáo T và ông L1 không có hợp đồng lao động và ông L1 cũng chưa được huấn luyện an toàn vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Điều này đã vi phạm quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015. Đồng thời, bị cáo Võ Thanh T cũng không đề xuất với Công ty Cổ phần X thực hiện biện pháp an toàn để ngăn ngừa người lao động bị rơi, ngã khi làm việc trên cao theo quy định tại Mục 2.1.5 QCVN 18:2021/BXD. Hành vi của bị cáo Võ Thanh T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, bản án sơ thẩm số: 21/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Võ Thanh T về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Võ Thanh T tại phiên tòa, thấy rằng: khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Võ Thanh T mức hình phạt 09 tháng tù là có căn cứ pháp luật và không nặng. Ngày 10/4/2018, bị cáo Võ Thanh T bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, mặc dù đến nay đã quá thời hạn, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 7 Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 nhưng hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 thì bị cáo không đủ điều kiện để hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo; tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo nộp đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, biên lai nộp tiền khắc phục hậu quả với số tiền 10.000.000 đồng và nộp tiền án phí sơ thẩm 200.000 đồng. Đây là tình tiết mới nên Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc giảm một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên.

Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại, thì thấy: Tại phiên toà phúc thẩm, lý do mà người đại diện hợp pháp của bị hại đưa ra để xin chuyển sang hình phạt tiền hoặc miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo trong đơn kháng cáo đã được Toà án cấp sơ thẩm xem xét khi quyết định hình phạt tại cấp sơ thẩm, hơn nữa, mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng loại hình phạt, quyết định hình phạt cho bị cáo là đúng luật định. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm không có cơ sở để chuyển sang áp dụng loại hình phạt khác đối với bị cáo theo yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại mà chỉ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đã nhận định ở trên là phù hợp.

4] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Võ Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thanh T và người đại diện hợp pháp của bị hại, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam về hình phạt.

    Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Võ Thanh T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.

    Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Võ Thanh T 10.000.000 (mười triệu) đồng.

  2. Bị cáo Võ Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (21/6/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - TAND thị xã Điện Bàn;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Các cơ quan liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2025/HS-PT ngày 21/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về vi phạm quy định về an toàn lao động

  • Số bản án: 167/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt 6 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger