Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 167/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18 – 11 – 2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hiển

Bà Ngô Hồng Dưỡng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 201/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Lê Kim T, sinh năm 1979; số CCCD:[...]; Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  • Bị đơn: Anh Trần Văn T1, sinh năm 1978; số CCCD: [...]; Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Chị Lê Kim T trình bày:

  • Về hôn nhân: Chị T và anh T1 chung sống năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, anh T1 thường ghen tuông vô cớ, xúc phạm danh dự nhân phẩm của chị. Chị T xác định không thể tiếp tục chung sống cùng anh T1 nên yêu cầu được ly hôn.
  • Về con chung: có 02 con chung tên Trần Thị H, sinh ngày 02/6/2006 và Trần Tuấn K, sinh ngày 15/7/2017. Khi ly hôn, chị T yêu cầu giao Tuấn K cho anh T1 nuôi, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra, đối với Trần Thị H đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
  • Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án anh T1 trình bày:

  • Về hôn nhân: Chị T trình bày về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn anh thừa nhận anh có ghen tuông và có xúc phạm chị, giữa anh với chị T cũng thường xảy ra bất hòa. Tuy nhiên, anh chưa nghĩ đến việc phải ly hôn vì còn thương chị T. Qua yêu cầu ly hôn của chị T anh không đồng ý.
  • Về con chung: như chị T trình bày là đúng. Trường hợp Tòa án giải quyết cho anh và chị T ly hôn thì anh thống nhất nuôi Tuấn K, không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Đối với Trần Thị H đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án xem xét.
  • Về tài sản chung: Giữa anh và chị T tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ: Không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Tuấn đã được Toà án triệu tập tham gia phiên toà sơ thẩm lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T1 là đúng quy định.

[2] Về nội dung: Chị T và anh T1 chung sống có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh T1 thường ghen tuông vô cớ, xúc phạm danh dự nhân phẩm chị T. Chị T xác định tình trạng hôn nhân của anh, chị đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được và không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống cùng anh T1 nên anh yêu cầu được ly hôn với chị T; anh T1 không đồng ý ly hôn do anh cho rằng còn thương chị T.

Xét yêu cầu ly hôn của chị T thấy rằng, về nguyên nhân mâu thuẫn các đương sự trình bày thống nhất với nhau nên được xem là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc anh T1 thường ghen tuông vô cớ, xúc phạm danh dự nhân phẩm chị T là hành vi bạo lực gia đình, theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì theo yêu cầu của một bên Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Đối chiếu với quy định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T ly hôn với anh T1 là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu về con chung của chị T thấy rằng: Qua xem xét nguyện vọng của Tuấn K thì Tuấn K có nguyện vọng sống cùng anh T1. Nguyện vọng của Tuấn K phù hợp với yêu cầu của chị T, anh T1 cũng đồng ý nuôi dưỡng Tuấn K. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao Tuấn K cho anh T1 tiếp tục trong nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi Tuấn K đủ 18 tuổi. Cấp dưỡng nuôi con chị T và anh T1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với Trần Thị H đã trưởng thành, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Chị T và anh T1 yêu cầu được tự thoả thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ: Chị T và anh T1 xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị T phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 92 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kim T.
    • - Về hôn nhân: Cho chị Lê Kim T được ly hôn với anh Trần Văn T1.
    • - Về con chung: Giao Trần Tuấn K, sinh ngày 15/7/2017 cho anh Trần Văn T1 tiếp tục trong nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi Tuấn K đủ 18 tuổi, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.

    Chị Lê Kim T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lê Kim T phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001161 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Cà Mau (chị T đã nộp xong).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4;
  • - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4;
  • - Ủy ban nhân dân xã Tân Thuận;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Huỳnh Ngọc Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2025/HNGĐ-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 167/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger