Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 167/2025/DS-PT

Ngày 14 tháng 3 năm 2025

V/v: Yêu cầu hủy giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất; hủy văn bản công chứng;

tranh chấp thừa kế; hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Cường

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Ý

Ông Nguyễn Văn Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 775/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 về “Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hủy văn bản công chứng; tranh chấp thừa kế; tranh chấp hợp đồng tín dụng.”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 182/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1984; có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Thùy D1, sinh năm 1980; có mặt.

Cùng địa chỉ cư trú: Khu phố F, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của bà D1: Ông Trương Hữu H, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: Khu phố K, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; theo Hợp đồng ủy quyền ngày 28/02/2025; có mặt.

- Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Trương H1, sinh năm 1987; có mặt.

Địa chỉ cư trú: Số I T, Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của ông H1: Ông Lê Tấn H2, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú: Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/9/2024; có mặt.

  1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1970; vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1979; vắng mặt.

Cùng địa chỉ cư trú: Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của ông C và bà T: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Số A đường T, Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/12/2024; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1961; địa chỉ cư trú: Số A đường T, Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1963; địa chỉ cư trú: Số A đường T, Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị Kim H3, sinh năm 1966; địa chỉ cư trú: Xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; vắng mặt.
  4. Bà Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú: Số A đường T, Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; vắng mặt.
  5. Bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1973; địa chỉ cư trú: Số H đường T, Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; vắng mặt.
  6. Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Số A đường T, Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; có mặt.
  7. Bà Lương Thị Như G, sinh năm 1965; vắng mặt.
  8. Ông Nguyễn Lương D2, sinh năm 1987; vắng mặt.
  9. Ông Nguyễn Lương D3, sinh năm 1989; vắng mặt.
  10. Bà Nguyễn Thị Thùy D4, sinh năm 1997; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Kim N, bà Kim H3, bà Kim X, bà Kim L1, bà G, ông D2, bà D4: Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1984; cùng địa chỉ cư trú: Khu phố F, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; có mặt.

  1. Bà Trương Thị Mỹ A1, sinh năm 1961; vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Mỹ H4, sinh năm 1982; vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Huy H5, sinh năm 1990; vắng mặt.
  4. Bà Nguyễn Thị Kiều M, sinh năm 1992; có mặt.
  5. Bà Trần Thị Diễm M1, sinh năm 1994; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của các ông bà A1, bà H4, bà H5, bà M, bà M1: Ông Lê Tấn H2, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú: Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/9/2024; có mặt.

  1. Bà Phùng Thị Tố M2; vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn L2; có mặt.

Cùng địa chỉ cư trú: Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

  1. Ủy ban nhân dân thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Tăng Ngọc Q, chức vụ: Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P - T; có đơn xin xét xử vắng mặt.

  1. Văn phòng C1; địa chỉ: Số A đường V, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; có đơn xin vắng mặt.
  2. Ngân hàng thương mại cổ phần N1 (V).

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T1, chức vụ: Tổng Giám đốc;

Địa chỉ trụ sở: Số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tuấn A2, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần N1 - Chi nhánh N2;

Người được ủy quyền lại: Bà Nguyễn Nữ Huyền T2, chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng G2 - Ngân hàng thương mại cổ phần N1 - Chi nhánh N2; địa chỉ: Số F Đường B, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; có mặt.

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Trương H1 là Bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vợ chồng cụ Nguyễn X1 (chết ngày 27/5/1995) và cụ Nguyễn Thị P (chết ngày 15/12/1998) có 10 người con chung gồm các ông bà: Nguyễn Văn D5 (chết ngày 30/4/2010; có vợ là bà Lương Thị Như G; có 05 người con chung gồm ông, bà: Nguyễn Thị Thùy D1, Nguyễn Thị Thùy D, Nguyễn Lương D2, Nguyễn Lương D3, Nguyễn Thị Thùy D4), Nguyễn Văn H6 (chết năm 2019; có vợ là bà Trương Thị Mỹ A1; có 04 người con chung gồm ông, bà: Nguyễn Thị Mỹ H4, Nguyễn Trương H1, Nguyễn Huy H5, Nguyễn Thị Kiều M), Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Thị Kim H3, Nguyễn Thị Kim X, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị Kim L1, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Thị Kim T. Khi còn sống, cụ X1 và cụ P tạo lập được khối tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số 68 có diện tích 158m², thửa đất số 159 có diện tích 59,9m², thửa đất số 161 có diện tích 182,1m² đất ở và 82,9m² đất trồng cây lâu năm.

Ngày 23/11/2018 tại Phòng Công chứng Nguyễn Thị Thanh H7, những người thừa kế của ông Nguyễn Văn D5 gồm bà Lương Thị Như G (vợ) và các con là ông Nguyễn Lương D2, Nguyễn Lương D3, Nguyễn Thị Thùy D4 lập Văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật số 72/VBTCQHDSTK/VPCC-NTTH đối với di sản của cụ X1, cụ P cho ông Nguyễn Văn H6, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Kim T. Ngày 30/11/2018 tại Phòng C2, ông Nguyễn Văn H6, bà Nguyễn Thị Kim A, bà Nguyễn Thị Kim N, bà Nguyễn Thị Kim H3, bà Nguyễn Thị Kim X, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Kim L1, ông Nguyễn Hoàng L, bà Nguyễn Thị Kim T cùng thỏa thuận lập Văn bản phân chia di sản thừa kế số 170/VBPCTSTK/VPCC-NTTH, theo đó ông Nguyễn Văn H6 được chia thửa đất số 161 có diện tích 265m²; ông Nguyễn Văn C được chia thửa đất số 68 có diện tích 158m²; bà Nguyễn Thị Kim T được chia thửa đất số 159 có diện tích 59,9m².

Trên cơ sở Văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế và Văn bản phân chia di sản thừa kế, ngày 14/3/2019 Ủy ban nhân dân thành phố P - T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 68, tờ bản đồ 09, diện tích 158m² đất ở đô thị, số phát hành CO 646255, số vào sổ CH 024450 cho ông Nguyễn Văn C; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 159, tờ bản đồ 09, diện tích 59,9m² đất ở đô thị, số phát hành CO 646256, số vào sổ CH 02451 cho bà Nguyễn Thị Kim T; ngày 27/3/2019 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 161, tờ bản đồ số 09, diện tích 265m², trong đó đất ở đô thị 182,1m², đất CLN 82,9m², số phát hành CO 646260, số vào sổ CH 02455 cho ông Nguyễn Văn H6; sau đó thửa đất số 161 được cập nhật sang tên ông Nguyễn Trương H1 theo hợp đồng tặng cho giữa ông H6 và ông H1.

Bà Nguyễn Thị Thùy D và bà Nguyễn Thị Thùy D1 cho rằng Văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật số 72/VBTCQHDSTK/VPCC-NTTH ngày 23/11/2018 và Văn bản phân chia di sản thừa kế số 170/VBPCTSTK/VPCC-NTTH ngày 30/11/2018 được lập nhưng không có ý kiến của bà D và bà D1 nên khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố các văn bản trên vô hiệu; hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông C, bà T, ông H1 và yêu cầu chia thừa kế theo quy định pháp luật.

Bị đơn gồm ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Kim T đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đối với bị đơn là ông Nguyễn Trương H1 thì không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng hợp pháp và ngay tình.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng thương mại cổ phần N1 có yêu cầu độc lập buộc ông Nguyễn Trương H1 trả số tiền 1.018.732.485 đồng, trong đó tiền gốc là 1.000.000.000 đồng, tiền lãi là 1.027.397 đồng; số tiền trên thẻ tín dụng là 17.705.088 đồng. Trường hợp ông H1, bà M1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ toàn bộ nghĩa vụ trả nợ trên thì V được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 008/2023/NTH.NC ký ngày 16/01/2023.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận quyết định (tóm tắt):

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    1. Hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật số: 72/VBTCHDSTK/VPCC – NTTH ngày 23/11/2018 của Văn phòng C1; Văn bản phân chia di sản thừa kế số: 170/VBPCTSTK-NTTH ngày 30/11/2018 của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Thanh H7; Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 110,05m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố P – T, tỉnh Ninh Thuận cấp cho ông Nguyễn Văn H6 số bìa CO 646260 ngày 27/3/2019, thửa đất số 161, tờ bản đồ số 09, diện tích 265m², được chỉnh lý trang thứ 4 tên ông Nguyễn Trương H1; phần diện tích 110,05m² được xác định theo trích lục đính kèm bản án. Giữ nguyên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố P – T, tỉnh Ninh Thuận cấp cho bà Nguyễn Thị Kim T số CO 646256 ngày 14/3/2019, thửa đất số 159, tờ bản đồ số 09, diện tích 59,9m²; Giữ nguyên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố P - T cấp cho Ông Nguyễn Văn C số CO 646255 ngày 14/3/2019, thửa đất số 68, tờ bản đồ số 09, diện tích 158m².
    2. Chia di sản thừa kế theo pháp luật cho những người thừa kế của cụ Nguyễn X1, Nguyễn Thị P gồm: Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Thị Kim H3, Nguyễn Thị Kim L1, Nguyễn Thị Kim X, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị Kim T, những người thừa kế của ông Nguyễn Văn H6, những người thừa kế của ông Nguyễn Văn D5:
      1. Bà Nguyễn Thị Kim T được chia thừa kế, nhận kỷ phần bằng quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố P - T, cấp số CO 646256 ngày 14/3/2019, thửa đất số 159, tờ bản đồ số 09, diện tích 59,9m²; hiện nay vợ chồng bà T là người đang sử dụng thửa đất. Bà Nguyễn Thị Kim T phải thanh toán kỷ phần thừa kế bằng tiền cho bà: Nguyễn Thị Kim X 30.582.914 đồng.
      2. Ông Nguyễn Văn C được chia thừa kế, nhận kỷ phần bằng quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố P - T cấp số CO 646255 ngày 14/3/2019, thửa đất số 68, tờ bản đồ số 09, diện tích 158m²; hiện nay vợ chồng ông C đang sử dụng thửa đất. Ông Nguyễn Văn C phải thanh toán kỷ phần thừa kế bằng tiền cho các bà: Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Thị Kim H3, mỗi người 35.661.694 đồng; thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim X 5.078.781 đồng; thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim L1 21.333.236 đồng; thanh toán cho ông Nguyễn Hoàng L 5.676.566 đồng.
      3. Ông Nguyễn Trương H1 được chia, hưởng thừa kế kỷ phần của ông Nguyễn Văn H6 bằng quyền sử dụng đất, diện tích 154,95m² thuộc một phần diện tích của thửa số 161, tờ bản đồ số 09. Vợ chồng ông Nguyễn Trương H1, bà Trần Thị Diễm M1 phải có nghĩa vụ tháo dỡ nhà bếp diện tích 4,8m² được xác định bởi các điểm 44, 45, 46, 47 và có nghĩa vụ tháo dỡ mái che trên phần không gian các điểm 16, 17, 45, 46 theo trích lục. Ông Nguyễn Trương H1 có nghĩa vụ thanh toán kỷ phần thừa kế bằng tiền cho ông Nguyễn Hoàng L 29.985.129 đồng.
      4. Bà Nguyễn Thị Thùy D được chia, hưởng thừa kế kỷ phần của ông Nguyễn Văn D5 bằng quyền sử dụng đất, diện tích 110,05m² thuộc một phần diện tích của thửa số 161, được quyền sử dụng căn nhà diện tích 37,1m² được xác định bởi các điểm 42, 43, 44, 47, 37. Bà Nguyễn Thị Thùy D có nghĩa vụ thanh toán kỷ phần thừa kế bằng tiền cho bà Nguyễn Thị Kim L1 14.328.458 đồng. Bà Nguyễn Thị Thùy D có nghĩa vụ hoàn trả tiền sửa chữa nhà và sân nền cho vợ chồng ông Nguyễn Trương H1, bà Trần Thị Diễm M1 số tiền 17.395.000 đồng.
      5. Vợ chồng ông Nguyễn Trương H1, bà Trần Thị Diễm M1 có nghĩa vụ:

        Tháo dỡ nhà bếp diện tích 4,8m² được xác định bởi các điểm 44,45,46,47, kết cấu gạch ceramic, tường sơn nước, kèo thép mái tôn, cửa nhôm kính; tháo dỡ mái hiên diện tích 5,9m² kết cấu trụ thép hộp, mái tôn được xác định bởi các điểm 16, 17, 45, 46 theo trích lục kèm bản án;

        Giao thửa đất diện tích 110,05m² thuộc một phần diện tích của thửa số 161, tờ bản đồ số 09, vị trí phần diện tích 110,05m² được xác định bởi các điểm: 16, 17, 18, 19, 43, 42, 35, 31, 28, 29, 30, 36, 37, 47, 46, 16, kèm theo trích lục và giao căn nhà từ diện tích 37,1m² được xác định bởi các điểm 42, 43, 44, 47, 37 cho bà Nguyễn Thị Thùy D, theo trích lục;

    3. Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa CO 646260 ngày 27/3/2019, do Ủy ban nhân dân thành phố P – T cấp điều chỉnh tại trang 4 giấy chứng nhận tên ông Nguyễn Trương H1 đối với phần diện tích 110,05m² thuộc một phần diện tích của thửa đất số 161, tờ bản đồ số 09. Phần diện tích còn lại 154,95m² (trong đó: 144,9m² đất ở và 10,05m² đất trồng cây lâu năm) ông Nguyễn Trương H1 được quyền sử dụng. Ngân hàng thương mại cổ phần N1 và ông Nguyễn Trương H1 có nghĩa vụ ký kết lại hợp đồng thế chấp đối với diện tích ông H1 được quyền sử dụng theo bản án là 154,95m² (trong đó: 144,9m² đất ở và 10,05m² đất trồng cây lâu năm), để đảm bảo nghĩa vụ cho khoản tiền vay tại ngân hàng.
    4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần N1. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Trương H1, bà Trần Thị Diễm M1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần N1 số tiền gốc đến ngày 14/8/2024 là: 1.000.000.000 đồng, tiền lãi của nợ gốc là: 4.109.589 đồng, nợ thẻ tín dụng là: 16.819.834 đồng. Vợ chồng ông Nguyễn Trương H1, bà Trần Thị Diễm M1 tiếp tục chịu tiền lãi theo hợp đồng vay cho đến khi thực hiện xong các khoản vay theo hợp đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, ông Nguyễn Trương H1 kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Trương Huy G1 nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy D và bà Nguyễn Thị Thùy D1; không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với những căn cứ sau:

Ông Nguyễn Văn H6 (chết năm 2019) và bà Trương Thị Mỹ A1 kết hôn năm 1980. Sau khi lập gia đình, ông H6 và bà Al ở cùng chung sống, phụng dưỡng cụ X1 và cụ P cho tới khi hai cụ qua đời. Năm 1999, ông H6 lập Tờ cam đoan về nguồn gốc đất thì ông Nguyễn Văn D5 (cha của nguyên đơn) ký tên xác nhận sự việc căn nhà ông H6 cha mẹ cho là đúng sự thật, có hai người làm chứng ký và được Ủy ban nhân dân phường xác nhận. Từ khi ra đời vào năm 1987, ông H1 đã sinh sống trong căn nhà này cho tới nay, quá trình đó không có ai thắc mắc khiếu nại hay tranh chấp. Năm 2019, ông H6 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau đó chuyển tên cho ông H1 cũng không ai có ý kiến phản đối. Trong quá trình sử dụng nhà đất, ông H1 đã sửa chữa, nâng nền, thay cửa sổ, cửa chính, sơn tường và xây thêm 01 căn nhà mới để ở, 01 căn nhà bếp diện tích khoảng 5m², 01 căn phòng riêng, 01 nhà vệ sinh. Trên thửa đất có tồn tại một nhà từ đường từ đời cha ông để lại, gia đình ông H6 trực tiếp quản lý, sử dụng, thờ cúng tổ tiên. Năm 2023, ông H1 đã sử dụng quyền sử dụng thửa đất 161 này để vay vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần N1. Cùng với việc được các đồng thừa kế tặng cho toàn bộ thửa đất và việc sử dụng đất ổn định lâu dài, ông H1 mới là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với nhà đất trên. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện hủy Văn bản phân chia di sản thừa kế và Văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật là không có căn cứ pháp luật. Ông H1 đồng ý trả lại giá trị kỷ phần thừa kế cho bà D1, bà D. Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần N1 thì ông H1 không đồng ý vì cho rằng thời hạn tất toán chưa kết thúc nên không có quyền khởi kiện.

Bà Nguyễn Thị Thùy D và bà Nguyễn Thị Thùy D1 trình bày: Khi bà G và anh chị em trong gia đình lập Văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật đối với ông C, bà T, ông H6 và khi những người thừa kế của cụ X1, cụ P lập Văn bản phân chia di sản thừa kế thì bà D và bà D1 không biết. Đến năm 2023, bà D1 và bà D mới phát hiện ra nên làm đơn khởi kiện tại Tòa án. Do các Văn bản trên đều thiếu người thừa kế nên thỏa thuận bị vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm phân chia di sản thừa kế của cụ X1 và cụ P theo pháp luật là có căn cứ nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:

  • Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Về nội dung: Văn bản từ chối hưởng di sản thừa kế lập ngày 23/11/2018 mặc dù không có bà D, bà D1 nhưng đã thể hiện sự việc bà G, ông D2, ông D3 đồng ý tặng cho phần di sản thừa kế của mình trong phần di sản thừa kế mà ông D5 được nhận cho ông C, bà T, ông H6; sau đó những người này đã đăng ký kê khai di sản thừa kế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, cần xác định phần tặng cho của bà G, ông D2, ông D3 đối với ông C, bà T, ông H6 đã hoàn thành; đối với yêu cầu khởi kiện tranh chấp chia thừa kế của bà D, bà D1 cần được xem xét trả lại bằng giá trị đối với phần của bà D, bà D1 được hưởng theo tỷ lệ mỗi bà được hưởng 1/6 của một suất thừa kế theo pháp luật là phù hợp. Mặt khác, gia đình ông H6, ông H1 đã quản lý, sử dụng đất trên 40 năm, trên đất có nhà từ đường, đất đã được thế chấp cho Ngân hàng để vay tiền, do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm phân chia thừa kế bằng hiện vật cho bà D, bà D1 là không phù hợp, ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng. Từ nhận định trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông H1 và sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông H1 trả lại cho bà D1, bà D mỗi bà giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền tương đương với 1/6 suất thừa kế theo pháp luật; không chấp nhận yêu cầu hủy Văn bản công chứng, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; không chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần N1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Trương H1 nộp trong hạn luật định, đúng quy định pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự và người đại diện hợp pháp của các đương sự vắng mặt nhưng thuộc trường hợp đã có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Trương H1 như sau:

[3.1] Cụ Nguyễn X1 chết năm 1995, cụ Nguyễn Thị P chết năm 1998. Các đương sự trong vụ án thống nhất xác định: Cụ X1 và cụ P chết không để lại di chúc; di sản thừa kế của cụ X1 và cụ P để lại là quyền sử dụng thửa đất số 68 có diện tích 158m², thửa đất số 159 có diện tích 59,9m², thửa đất số 161 có diện tích 182,1m² đất ở và 82,9m² đất trồng cây lâu năm; hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ gồm các ông, bà: (1) Nguyễn Văn D5 (chết ngày 30/4/2010; có vợ là bà Lương Thị Như G; có 05 người con chung gồm ông, bà: Nguyễn Thị Thùy D1, Nguyễn Thị Thùy D, Nguyễn Lương D2, Nguyễn Lương D3, Nguyễn Thị Thùy D4), (2) Nguyễn Văn H6 (chết năm 2019; có vợ là bà Trương Thị Mỹ A1; có 04 người con chung gồm ông, bà Nguyễn Thị Mỹ H4, Nguyễn Trương H1, Nguyễn Huy H5, Nguyễn Thị Kiều M), (3) Nguyễn Thị Kim A, (4) Nguyễn Thị Kim N, (5) Nguyễn Thị Kim H3, (6) Nguyễn Thị Kim X, (7) Nguyễn Văn C, (8) Nguyễn Thị Kim L1, (9) Nguyễn Hoàng L, (10) Nguyễn Thị Kim T.

[3.2] Ngày 23/11/2018 tại Phòng C2, vợ con của ông Nguyễn Văn D5 gồm bà Lương Thị Như G (vợ) và các con là ông Nguyễn Lương D2, Nguyễn Lương D3, Nguyễn Thị Thùy D4 lập Văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật số 72/VBTCQHDSTK/VPCC-NTTH đối với di sản của cụ X1 và cụ P cho ông Nguyễn Văn H6, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Kim T. Tuy nhiên, ngoài những người này, ông H6 và bà G còn có 02 người con chung khác là bà Nguyễn Thị Thùy D, Nguyễn Thị Thùy D1, nên việc lập Văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế trong trường hợp này là thiếu sót, mà lỗi chính thuộc về bà G, ông D2, ông D3, bà D4 đã không khai báo về nhân thân bà D, bà D1 với tư cách là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông D5.

[3.3] Ngày 30/11/2018 tại Phòng C2, ông Nguyễn Văn H6, bà Nguyễn Thị Kim A, bà Nguyễn Thị Kim N, bà Nguyễn Thị Kim H3, bà Nguyễn Thị Kim X, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Kim L1, ông Nguyễn Hoàng L, bà Nguyễn Thị Kim T cùng thỏa thuận lập Văn bản phân chia di sản thừa kế số 170/VBPCTSTK/VPCC-NTTH, theo đó ông Nguyễn Văn H6 được chia thửa đất số 161 có diện tích 265m²; ông Nguyễn Văn C được chia thửa đất số 68 có diện tích 158m²; bà Nguyễn Thị Kim T được chia thửa đất số 159 có diện tích 59,9m².

[3.4] Căn cứ vào Văn bản phân chia di sản thừa kế này, ông H6, ông C, bà T thực hiện việc kê khai di sản thừa kế theo quy định pháp luật. Ngày 14/3/2019, Ủy ban nhân dân thành phố P - T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 68, Tờ bản đồ 09, diện tích 158m² đất ở đô thị, số phát hành CO 646255, số vào sổ CH 024450 cho ông Nguyễn Văn C; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 159, Tờ bản đồ 09, diện tích 59,9m² đất ở đô thị, số phát hành CO 646256, số vào sổ CH 02451 cho bà Nguyễn Thị Kim T; ngày 27/3/2019 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 161, Tờ bản đồ số 09, diện tích 265m², trong đó đất ở đô thị 182,1m², đất CLN 82,9m², số phát hành CO 646260, số vào sổ CH 02455 cho ông Nguyễn Văn H6; sau đó thửa đất số 161 được cập nhật sang tên ông Nguyễn Trương H1 theo hợp đồng tặng cho giữa ông H6 và ông H1. Ngày 16/01/2023, ông H1 và Ngân hàng thương mại cổ phần N1 ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 008/2023/NTH.NC đối với thửa đất số 161 để đảm bảo cho khoản vay của ông H1 tại Ngân hàng này.

[3.5] Qua xem xét Văn bản từ chối hưởng di sản thừa kế lập ngày 23/11/2018, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù không có đầy đủ người thừa kế của ông D5 ký tên xác nhận (bà D, bà D1) nhưng bà G, ông D2, ông D3 đã đồng ý tặng cho phần di sản thừa kế của mình trong phần di sản thừa kế mà ông D5 được nhận cho ông C, bà T, ông H6; sau đó những người này đã đăng ký kê khai di sản thừa kế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C, bà T, ông H6 được Ủy ban nhân dân thành phố P - T xác định là hợp pháp vì các tài liệu liên quan tới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được niêm yết công khai theo quy định pháp luật; trong thời gian này, bà G, ông D2, ông D3 biết nhưng đều không có ý kiến; cho đến tháng 4/2023 thì bà D, bà D1 mới khởi kiện tranh chấp.

Từ diễn biến thực tế trên cho thấy ý chí của bà G, ông D2, ông D3 là đã tặng cho phần di sản thừa kế mà ông D5 được hưởng từ cụ X1 và cụ P cho ông C, bà T, ông H6 nên không tranh chấp. Do đó, cần xác định phần di sản tặng cho của bà G, ông D2, ông D3 đối với ông C, bà T, ông H6 đã hoàn tất. Còn đối với yêu cầu khởi kiện tranh chấp chia thừa kế của bà D, bà D1 cần được xem xét trả lại bằng giá trị đối với phần của bà D, bà D1 được hưởng theo tỷ lệ 2/6 của một suất thừa kế theo pháp luật mới đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của người được tặng cho. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo mà chỉ có ông H1 kháng cáo cho rằng việc buộc ông H1 trả lại một phần thửa đất số 161 trong đó có nhà từ đường là không phù hợp; ông H1 yêu cầu được trả bằng giá trị trong trường hợp xác định thửa đất số 161 là di sản thừa kế phải chia cho bà D, bà D1, nên Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét trong phạm vi kháng cáo của ông H1.

[3.6] Hội đồng xét xử xét kháng cáo của ông H1 yêu cầu được nhận hiện vật và thanh toán giá trị cho bà D, bà D1: Theo các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện gia đình ông Nguyễn Văn H6 đã ở cùng cụ X1 và cụ P trên thửa đất số 161 trên 40 năm cho tới khi hai cụ qua đời; trên đất có nhà từ đường do ông H6, sau này là ông H1 trực tiếp quản lý từ khi cụ X1 và cụ P còn sống cho đến nay; sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông H1 đã sử dụng quyền sử dụng thửa đất này thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần N1 để vay tiền; trong khi đó bà D và bà D1 đã lập gia đình, có chỗ ở khác. Vì vậy, để đảm bảo việc sử dụng đất ổn định và quản lý, trông coi nhà từ đường một cách tốt nhất thì cần giao toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 161 cho ông H1 tiếp tục quản lý, sử dụng; ông H1 có nghĩa vụ hoàn trả lại giá trị cho bà D, bà D1 mới hợp tình, hợp lý. Việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định phân chia di sản thừa kế bằng hiện vật cho bà D, bà D1 trong trường hợp này là không phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông H1 và sửa bản án sơ thẩm về nội dung này.

[3.7] Về kháng cáo của ông Nguyễn Trương H1 đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần N1:

Ngân hàng thương mại cổ phần N1 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Trương H1, bà Nguyễn Thị Diễm M3 trả số tiền 1.018.732.485 đồng (tính đến ngày 30/7/2024), trong đó tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, tiền lãi là 1.027.397 đồng và tiền trên thẻ tín dụng là 17.705.088 đồng. Trường hợp ông H1, bà M3 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ toàn bộ nghĩa vụ trả nợ trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần N1 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 008/2023/NTH.NC ký ngày 16/01/2023.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại thời điểm Ngân hàng thương mại cổ phần N1 có yêu cầu độc lập về việc buộc vợ chồng ông H1, bà M3 phải trả tiền gốc, nợ lãi, tiền trên thẻ tín dụng mặc dù chưa đến thời hạn tất toán theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nhưng do tài sản thế chấp bị tranh chấp nên Ngân hàng có quyền khởi kiện trước thời điểm đến hạn phải trả nợ là đúng pháp luật. Mặc khác, cho tới thời điểm xét xử phúc thẩm cũng đã tới hạn phải trả nợ. Do đó, kháng cáo của ông H1 cho rằng Ngân hàng không có quyền khởi kiện khi chưa tới thời hạn ông phải trả tiền nợ gốc, tiền lãi là không có căn cứ chấp nhận.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Nguyễn Trương H1 không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trương H1 và sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Áp dụng: Bộ luật dân sự năm 2015Luật Công chứng và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy D, Nguyễn Thị Thùy D1 đối với ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Kim T, ông Nguyễn Trương H1 về việc chia thừa kế theo pháp luật như sau:
    1. Bà Nguyễn Thị Kim T được chia thừa kế và nhận kỷ phần bằng quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố P - T cấp số CO 646256 ngày 14/3/2019, thửa đất số 159, tờ bản đồ số 09, diện tích 59,9m². Bà Nguyễn Thị Kim T phải thanh toán kỷ phần thừa kế bằng tiền cho bà Nguyễn Thị Kim X là 30.582.914 đồng.
    2. Ông Nguyễn Văn C được chia thừa kế và nhận kỷ phần bằng quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố P - T cấp số CO 646255 ngày 14/3/2019, thửa đất số 68, tờ bản đồ số 09, diện tích 158m². Ông Nguyễn Văn C phải thanh toán kỷ phần thừa kế bằng tiền cho các bà: Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Thị Kim H3, mỗi người là 35.661.694 đồng; thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim X số tiền 5.078.781 đồng; thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim L1 số tiền 21.333.236 đồng; thanh toán cho ông Nguyễn Hoàng L số tiền 5.676.566 đồng.
    3. Ông Nguyễn Trương H1 được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 161 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận cấp cho ông Nguyễn Văn H6, số bìa CO 646260 ngày 27/3/2019, thửa đất số 161, tờ bản đồ số 09, diện tích 265m², được chỉnh lý trang thứ 4 tên ông Nguyễn Trương Huy .

      Ông Nguyễn Trương H1 có nghĩa vụ thanh toán kỷ phần thừa kế bằng tiền cho ông Nguyễn Hoàng L là 29.985.129 đồng.

      Ông Nguyễn Trương H1 có nghĩa vụ thanh toán kỷ phần thừa kế bằng tiền cho cho bà Nguyễn Thị Thùy D và bà Nguyễn Thị Thùy D1 số tiền 49.980.153 đồng (căn nhà từ đường trị giá 22.344.000 đồng + diện tích 110,5m² đất trị giá 27.646.153 đồng).

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy D và bà Nguyễn Thị Thùy D1 đề nghị hủy Văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật số 72/VBTCQHDSTK/VPCC-NTTH ngày 23/11/2018 của Văn phòng C1; hủy Văn bản phân chia di sản thừa kế số 170/VBPCTSTK-NTTH ngày 30/11/2018 của Văn phòng C1.
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy D và bà Nguyễn Thị Thùy D1 về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận cấp cho ông Nguyễn Văn H6 số bìa CO 646260 ngày 27/3/2019, thửa đất số 161, tờ bản đồ số 09, diện tích 265m², được chỉnh lý trang thứ 4 tên ông Nguyễn Trương H1; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận cấp cho bà Nguyễn Thị Kim T số CO 646256 ngày 14/3/2019, thửa đất số 159, tờ bản đồ số 09, diện tích 59,9m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận cấp cho ông Nguyễn Văn C số CO 646255 ngày 14/3/2019, thửa đất số 68, tờ bản đồ số 09, diện tích 158m².
  4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần N1 về việc buộc vợ chồng ông Nguyễn Trương H1, bà Trần Thị Diễm M1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần N1 số tiền gốc tính đến ngày 14/8/2024 là 1.000.000.000 đồng, tiền lãi của nợ gốc là 4.109.589 đồng, nợ thẻ tín dụng là 16.819.834 đồng. Trường hợp ông H1, bà M1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, Ngân hàng thương mại cổ phần N1 có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.
  5. Chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thùy D đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng được trừ vào tiền tạm ứng do bà Nguyễn Thị Thùy D nộp. Các ông, bà Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Thị Kim H3, Nguyễn Thị Kim X, Nguyễn Thị Kim L1, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Trương H1, mỗi người phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thùy D số tiền 1.500.000 đồng.
  6. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:

      Bà Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Thị Kim N được miễn. Các ông, bà Nguyễn Thị Kim H3, Nguyễn Thị Kim X, Nguyễn Thị Kim L1, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị Kim T, mỗi người phải chịu 1.783.000 đồng.

      Bà Nguyễn Thị Thùy D phải chịu 1.783.000 đồng, được trừ vào số tiền 56.500.000 đồng đã tạm ứng theo Biên lai thu số 0000731 ngày 09/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thùy D số tiền 54.717.000 đồng. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thùy D1 số tiền 56.500.000 đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0000732 ngày 09/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận.

      Ông Nguyễn Trương H1 phải chịu 1.783.000 đồng. Ông Nguyễn Trương H1 và bà Trần Thị Diễm M1 phải liên đới chịu 42.627.883 đồng.

      Ngân hàng thương mại cổ phần N1 không phải chịu. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần N1 số tiền 21.327.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0000090 ngày 25/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận.

    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Trương H1 không phải chịu, hoàn trả lại cho ông H1 số tiền 300.000 đồng đã tạm ứng theo Biên lai thu số 0000132 ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận.
  7. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Vụ Pháp chế và Quản lý Khoa học;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP. HCM;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA - NTHN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2025/DS-PT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hủy văn bản công chứng; tranh chấp thừa kế; hợp đồng tín dụng.

  • Số bản án: 167/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hủy văn bản công chứng; tranh chấp thừa kế; hợp đồng tín dụng.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trương H1 và sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger