Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 167/2024/HSST

Ngày 22 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Hoan

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Văn Tài
  • 2. Ông Nguyễn Hoàng Tú

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Khang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Ngân Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 167/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Nguyễn Minh L;

Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 17 tháng 02 năm 1998; Nơi thường trú: nhà số A đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: nhà số A đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông: Phạm Minh H và bà Con bà: Nguyễn Thị Lan H1; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giam từ ngày 29/03/2024 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua bạn bè giới thiệu, Phạm Nguyễn Minh L quen và biết L1 (chưa rõ nhân thân lai lịch) bán ma túy qua tài khoản Facebook “Nhi Anh N” từ tháng 12/2023. L đã mua ma túy của L1 được 4 lần, mỗi lần mua từ 2.000.000 đồng đến 2.500.000 đồng. Ngày 29/03/2024, L gọi điện hỏi mua 1 hộp 5 ma túy khay và 3 viên thuốc lắc với giá 4.750.000 đồng được L1 hẹn giao tại khu vực Chung cư P, phường T, Quận A. Sau khi nhận được ma túy từ L2 (chưa rõ nhân thân lai lịch, là người được L1 nhờ giao ma túy) và trả tiền mặt. Sau khi nhận được ma túy, L đặt xe ôm công nghệ trên ứng dụng Xanh SM để đi từ khu vực chung cư P, đường T, phường T, Quận A đến địa chỉ B N, Phường B, quận B gặp bạn uống nước. Anh Nguyễn Văn Đ là xe ôm công nghệ được chọn ngẫu nhiên điều khiển xe mô tô biển số 59TA- 047.57 để đón L. Khi anh Đ chở L đến trước số nhà E P, Phường A, quận B thì lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện và thu giữ L gói giấy màu trắng bên trong có 5 ma túy khay và 3 viên thuốc lắc. Khám xét tại nhà L ở A T, phường T, Quận A thu giữ 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu trắng, 01 mệnh giá 10.000 đồng đã bị hư hỏng được quấn thành ống hút L dùng để sử dụng ma túy.

- Kết luận giám định số 4208/KL- KTHS ngày 05/04/2024 của Phòng P xác định:

+ 03 viên nén màu xám thu giữ của L đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,0827g loại MDMA;

+ Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,0132g, loại Ketamine

+ Căn cứ Khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ- CP ngày 02/02/2018 quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, L tàng trữ 1,0827g MDMA và 4,0132g Ketamine thuộc điểm c khoản 1 và điểm g khoản 1 Điều 249, tổng % khối lượng được tính như sau: 1,0827/5x100 + 4,0132/20x100 = 41% dưới 100% nên tổng khối lượng ma túy Liêm tàng trữ đã phạm vào khoản 1 Điều 249 BLHS.

Vật chứng vụ án: 1 gói giấy màu trắng L dùng để cất giấu ma túy; 1 điện thoại Iphone màu trắng; 1 gói nylon chứa 03 viên nén màu xám và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy do L cất giấu. Mẫu vật còn lại sau khi giám định có khối lượng 0,7349g và 3,8875g; 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa, 01 tờ tiền 10.000 đồng quấn thành ống hút.

Tại bản cáo trạng số 162/CT-VKSBTh ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, đã truy tố bị cáo Phạm Nguyễn Minh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu. Bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Nguyễn Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù. Đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và tuyên về án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận bản thân là đối tượng nghiện ma túy, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng, bị cáo đã liên hệ với người tên L1 (không rõ lai lịch) mua ma túy về sử dụng. Ngày 29/03/2024, L gọi điện hỏi mua 1 hộp 5 ma túy khay và 3 viên thuốc lắc với giá 4.750.000 đồng được L1 hẹn giao tại khu vực Chung cư P, phường T, Quận A. Sau khi nhận được ma túy từ L2 (chưa rõ nhân thân lai lịch, là người được L1 nhờ giao ma túy) và trả tiền mặt. Khi về đến trước số nhà E P, Phường A, quận B thì lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện và thu giữ L gói giấy màu trắng bên trong có 5 ma túy khay và 3 viên thuốc lắc. Bị cáo khai nhận đã 04 lần mua ma túy của L1, mỗi lần từ 2 triệu đến 4 triệu đồng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố đối với bị cáo.

Căn cứ Kết luận giám định số 4208/KL- KTHS ngày 05/04/2024 của Phòng P xác định:

+ 03 viên nén màu xám thu giữ của L đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,0827g loại MDMA;

+ Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,0132g, loại Ketamine

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để nhận biết được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đây là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; gây ảnh hưởng đến trật tự trị an, đến sức khỏe của con người, làm lây lan tệ nạn nghiệp ngập ma túy trong xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn, tội phạm khác. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt phạt nghiêm khắc đề giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội, đồng thời giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét áp dụng khi lượng hình, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Đối với những đối tượng bán ma túy cho bị cáo không rõ lai lịch; Cơ quan điều tra Công an quận B đang tiến hành xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: 1 gói giấy màu trắng; 1 gói nylon chứa 03 viên nén màu xám và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy có khối lượng 0,7349g và 3,8875g sau giám định; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa. Vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. 01 tờ tiền 10.000 đồng quấn thành ống hút và 1 điện thoại Iphone màu trắng là vật chứng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Nguyễn Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Minh L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • + Tịch thu tiêu hủy: 1 gói giấy màu trắng; 1 gói nylon chứa 03 viên nén màu xám; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa.
    • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền 10.000 đồng và 01 điện thoại Iphone màu trắng.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng lập hồi 10 giờ 00 phút ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Về án phí sơ thẩm:

    Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH/13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Bình Thạnh;
  • - Công an quận Bình Thạnh;
  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06);
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Ngọc Hoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2024/HSST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 167/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Nguyễn Minh L k1Đ249 Tàng trữ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger