Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 167/2024/HS-ST

Ngày: 26-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Nguyệt Mai

Ông Lâm Văn Vô

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 175/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 182/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn P, sinh ngày 11 tháng 4 năm 1998 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: NamNơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A G, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Ngọc N; con bà: Phạm Thị Kim T; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2024 (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trịnh Vĩnh T1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: F T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 22/06/2024, Tổ tuần tra Công an P1, Quận E đang tuần tra đến trước số D N, Phường F, Quận E thì phát hiện Nguyễn Văn P đang dừng xe mô tô biển số 59M2 – 209.98 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi quần trước bên trái của P có 01 túi nylon bên trong chứa tinh thể không màu, P khai là ma tuý nên Tổ tuần tra đưa P cùng vật chứng về trụ sở Công an P1, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn P khai nhận: Bản thân P là người nghiện ma túy, do có nhu cầu sử dụng nên vào khoảng 09 giờ ngày 22/06/2024, P điều khiển 01 xe mô tô biển số 59M2 – 20998 từ nhà đến khu M, Quận A và gặp 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) để mua 200.000 đồng ma tuý. Sau khi nhận gói ma tuý từ 01 người đàn ông, P cất giấu vào bên trong túi quần trước phía bên trái P đang mặc rồi điều khiển xe mô mô tô biển số 59M2 – 209.98 đi về nhà. Khi đi đến trước số D đường N, Phường F, Quận E thì bị Tổ tuần tra kiểm tra, phát hiện và bắt giữ như trên. P khai nhận việc cất giấu ma tuý chỉ nhằm mục đích để sử dụng chứ không nhằm mục đích khác.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn P và hình dấu Công an P1, Quận E (Ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3635g (không phẩy ba sáu ba năm gam), loại Methamphetamine. (Số mẫu vật còn lại sau giám định trong 01 (một) gói niêm phong số 7579C2351/24, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình H và điều tra viên Võ Chí H1); 01 (một) mô tô hiệu Honda loại Exciter, biển số 59M2-209.98, số khung: RLCUG0610JY659902, số máy: G3D4687236; 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone 6S Plus màu hồng, số I: 353349070038983.

Tại bản Kết luận giám định số: 7579/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận như sau: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn P và hình dấu Công an P1, Quận E (Ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3635g (không phẩy ba sáu ba năm gam), loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số: 169/CT-VKSQ5 ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn P không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Nguyễn Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Nguyễn Văn P đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,3635g (không phẩy ba sáu ba năm gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, vì muốn thỏa mãn cơn nghiên mà bị cáo đã mua ma túy cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

  3. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  4. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  5. [5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội.
  6. [6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  7. [7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
  8. [8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Phát hiện không rõ lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục xác minh, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
  9. [9] Về xử lý vật chứng:

    01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn P và hình dấu Công an P1, Quận E (Ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3635g (không phẩy ba sáu ba năm gam), loại Methamphetamine. (Số mẫu vật còn lại sau giám định trong 01 (một) gói niêm phong số 7579C2351/24, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình H và điều tra viên Võ Chí H1). Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.

    01 (một) mô tô hiệu Honda loại Exciter, biển số 59M2-209.98, số khung: RLCUG0610JY659902, số máy: G3D4687236 do ông Trịnh Vĩnh T1 đứng tên chủ sở hữu, hiện nay ông T1 đi đâu không rõ; bị cáo P khai chiếc xe trên mượn của người bạn tên M không rõ lai lịch. Xét chiếc xe trên bị cáo P có được không rõ nguồn gốc và sử dụng làm phương tiện mua ma túy để sử dụng nên cần giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên trong thời gian nhất định, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.

    Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone 6S Plus màu hồng, số Imei: 353349070038983 là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo P.

  10. [10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 6 năm 2024.

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: Số mẫu vật còn lại sau giám định trong 01 (một) gói niêm phong số 7579C2351/24, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình H và điều tra viên Võ Chí H1.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn P: 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone 6S Plus màu hồng, số I: 353349070038983.

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của 01 (một) mô tô hiệu Honda loại Exciter, biển số 59M2-209.98, số khung: RLCUG0610JY659902, số máy: G3D4687236 trong thời hạn 03 (ba) tháng, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tp.HCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THAHS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 - Công an Tp.HCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 167/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 167-Nguyễn Văn Ph- Tàng trữ trữ phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger