|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 167/2024/HS-ST Ngày: 07/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Tiến Chuyển
Ông: Bùi Bá Huynh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trần Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 127/2024/TLST-HS ngày 17/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST- HS ngày 21/5/2024 đối với bị cáo:
Trần Xuân T, sinh năm 1975; Hộ khẩu thường trú: Tổ B, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Xuân T1 (đã chết); con bà: Trần Thị T2 (đã chết). Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1985. Có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú ngày 31/01/2024. Tạm giữ từ ngày 01/02/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an H1.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Đặng Văn C, sinh 1960 (đã chết). HKTT: TDP N, phường T, quận N, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật cho bị hại: Bà Trương Thị H, sinh 1958. HKTT: TDP N, phường T, quận N, Hà Nội – là vợ ông Đặng Văn C (bà H vắng mặt).
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH X. Địa chỉ trụ sở: Số B P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Phương T3 – Giám đốc (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1
Khoảng 17 giờ 55 phút ngày 31/01/2024, Trần Xuân T một mình điều khiển xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG màu bạc, BKS: 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc nhãn hiệu CIMC màu xanh, BKS: 15R-148.83 tham gia giao thông đi trên đường T thuộc quận N, chiều từ ngã tư C đi Đại lộ T. Khi đi đến trước số nhà F đường tỉnh lộ 70 thuộc phường T, N, Hà Nội (đoạn cách chân cầu vượt T khoảng 30m) thì T điều khiển xe ô tô chuyển hướng sang phải để đi ra đường Đ. Do T khi điều khiển xe ô tô chuyển hướng không đảm bảo an toàn, không chú ý quan sát nên phần đầu phía trước bên phải xe ô tô va vào đầu núm tay lái bên trái xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu ghi BKS: 29T7-5649 do ông Đặng Văn C, Sinh năm: 1960, HKTT: TDP N, phường T, N, Hà Nội điều khiển đang đi phía trước bên phải cùng chiều dẫn đến tai nạn giao thông. Sau va chạm, ông C ngã xuống đường thì bị hàng bánh thứ 4, 5, 6 bên phải xe ô tô chèn qua người ông C, còn xe mô tô đổ xuống mặt đường. Hậu quả: ông C tử vong tại chỗ, hai phương tiện bị hư hỏng nhẹ.
Đến 22 giờ ngày 31/01/2024, Trần Xuân T đến Công an quận N xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG màu bạc, BKS: 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc nhãn hiệu CIMC màu xanh, BKS: 15R-148.83;
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-358.92;
- 01 giấy chứng nhận đăng ký sơ mi rơ moóc, BKS: 15R-148.83;
- 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-358.92;
- 01 giấy chứng nhận kiểm định xe sơ mi rơ moóc, BKS: 15R-148.83;
- 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-358.92;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu ghi BKS: 29T7-5649;
- 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS: 29T7-5649.
- 01 giấy phép lái xe ô tô hạng E, FC mang tên Trần Xuân T.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường
Khu vực xảy ra tai nạn giao thông là đường tỉnh lộ 70 được rải nhựa tương đối bằng phẳng. Lối xuống Cầu N mặt đường có bề rộng 14m00, mặt đường cầu vượt tỉnh lộ 70 có bề rộng 11m40 tính theo chiều Cầu N hướng Đại lộ T. Mặt đường lối vào đường Đ có bề rộng 9m80. Từ điểm gần nhất của vòng xuyến đo đến mép đường bên phải đường tỉnh lộ 70 theo phương vuông góc là 18m10.
Lấy cột đèn chiếu sáng số T nằm bên phải đường tỉnh lộ 70 theo chiều Cầu N hướng Đại lộ thăng long làm điểm mốc.
Lấy mép đường bên phải đường tỉnh lộ 70 theo chiều Cầu N hướng Đại lộ thăng long làm mép đường làm chuẩn.
- Vết cày đứt quãng dài 1m30 để lại trên mặt đường sau tai nạn. Đo từ điểm đầu vết cày đến mép đường làm chuẩn đo được là 4m50, điểm cuối trùng với để chân trước bên trái xe mô tô (2).
- Xe mô tô BKS: 29T7-5649 sau tai nạn đổ nghiêng bên trái, đầu xe chếch hướng Đại lộ T, đuôi xe chếch hướng Cầu N. Đo lần lượt từ tâm trục bánh sau, tâm trục bánh trước xe mô tô (2) đến mép đường làm chuẩn theo phương vuông góc đo được lần lượt là 4m60 và 3m50.
- Thi thể nạn nhân nằm trên mặt đường sau tai nạn đầu hướng chếch. Đo lần lượt từ lòng bàn chân trái, đỉnh đầu thi thể nạn nhân (3) đến mép đường làm chuẩn theo phương vuông góc đo được lần lượt là 4m60 và 6m10.
- Vết lốp màu đen diện 0,5 x 6,8m để lại trên mặt đường sau tai nạn. Đo từ tâm điểm đầu (4) đến mép đường làm chuẩn đo theo phương vuông góc đo được là 5m8, điểm cuối trùng với tâm trục bánh sau cùng của sơ mi rơ moóc BKS: 15R- 148.83.
- Vết lốp màu đen diện 0,5 x 4m để lại trên mặt đường sau tai nạn. Do từ tâm điểm đầu (5) đến mép đường làm chuẩn theo phương vuông góc đo được 7m80, điểm cuối trùng với tâm bánh sau cùng bên trái sơ mi rơ moóc BKS: 15R- 148.83.
- Xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS: 15R- 148.83 sau tai nạn đầu xe hướng Đại lộ T, đuôi sơ mi rơ moóc hướng Cầu N. Đo lần lượt từ tâm trục hàng bánh đầu tiên, tâm trục hàng bánh sau cùng (6) đến mép đường làm chuẩn theo phương vuông góc đo được lần lượt là 5m80 và 5m40.
Đo từ điểm đầu vết cày (1) đến tâm trục bánh sau xe mô tô (2) theo phương song song với mép đường làm chuẩn về hướng Đại lộ T đo được 1m30.
Đo từ tâm trục bánh sau xe mô tô (2) đến lòng bàn chân trái thi thể nạn nhân (3) là 0m00.
Đo từ tâm lòng bàn chân trái (3) đến điểm đầu vết lốp màu đen (4) theo phương song song với mép đường làm chuẩn về hướng Đại lộ thăng long đo được là 2m20.
Đo từ điểm đầu (4) đến điểm đầu (5) theo phương song song với mép đường làm chuẩn về hướng Đại lộ thăng long đo được là 2m60.
Đo từ điểm đầu vết cày đứt quãng (1) đến tâm cột đèn chiếu sáng số T3A/6 theo phương song song với mép đường làm chuẩn về hướng Cầu Ngà đo được là 4m00.
3
* Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG màu bạc BKS: 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc nhãn hiệu CIMC màu BKS: 15R-148.83:
Quá trình khám nghiệm mô tả dấu vết được tiến hành từ trước về sau, từ phải sang trái, từ dưới lên trên.
Kích thước bao xe ô tô đầu kéo (6930 x 2500 x 3860) mm; Chiều dài cơ sở (3300+1350) mm.
Kích thước bao sơ mi rơ moóc (13920 x 2500 x 1560) mm; Chiều dài cơ sở (8450+1310+1310) mm.
Tại mặt ngoài góc bên phải cụm đèn chiếu sáng phía trước bên phải, ốp nhựa bảo vệ cụm đèn chiếu sáng có vết mài trượt nhựa, vết có diện (7 x 1) cm. Điểm thấp nhất cách đất 100 cm.
Tại mặt ngoài má lốp phía trước bên phải có nhiều vết trượt xước không rõ chiều hướng, toàn bộ vết có diện (73 x 12) cm.
Tại mặt ngoài bên phải của hàng bánh sau cùng thứ hai bên phải có bám dính chất màu nâu sẫm đã khô, vết có diện (25 x 16) cm.
Tại mặt ngoài hàng bánh sau cùng (mặt phía trong của bánh) có vết bám dính dung dịch màu nâu sẫm đã khô, vết có diện (10 x 10) cm
* Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô BKS: 29T7-5649:
Quá trình khám nghiệm mô tả dấu vết được tiến hành từ trước về sau, từ trái sang phải, từ dưới lên trên.
Tại mặt ngoài phía trước bên trái ốp nhựa chắn bùn có vết mài trượt làm trượt xước sơn bên ngoài, vết có diện (37 x 10) cm, điểm thấp nhất cách đất 52,5 cm.
Tại mặt ngoài kim loại càng giảm xóc phía trước bên trái có vết mài trượt làm trượt xước sơn màu ghi phủ bên ngoài để lộ kim loại màu trắng bên trong, vết có diện (21 x 1) cm, điểm thấp nhất cách đất 27,5 cm.
Tại mặt ngoài ốp nhựa cánh yếm bên trái phía dưới có vết mài trượt, trên bề mặt còn bám dính chất màng màu xanh đen, vết có diện (45 x 12) cm, điểm thấp nhất cách đất 34 cm.
Tại mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ cụm đèn chiếu sáng phía trước bên trái có vết mài trượt làm xước nhựa, trên bề mặt còn bám dính bụi đất bẩn (dạng bột đá), vết có diện (4 x 2) cm.
4
Tại mặt ngoài phía trước đầu núm kim loại tay nắm tay lái bên trái có vết trượt xước kim loại làm cong kim loại, vết có diện (2 x 1) cm.
Tại mặt ngoài ốp nhựa sườn xe bên trái có vết mài trượt làm xước ni lông tem dán bên sườn xe, vết có diện (23 x 6) cm.
Tại mặt ngoài kim loại bàn để chân trước bên trái có vết tỳ trượt kim loại trên bề mặt còn bám dính bụi đất bẩn (dạng bột đá) vết có diện (1,5 x 2) cm.
Tại mặt cao su bàn để chân phía sau bên trái có vết mài trượt cao su còn bám dính bụi đất bẩn, vết có diện (4 x 1,5) cm.
Tại mặt ngoài ốp nhựa bên sườn phía sau bên trái có vết mài trượt còn bám dính chất màng màu đen, vết có diện (4 x 0,1) cm.
Tại mặt ngoài phía sau cụm đèn hậu có vết mài trượt nhựa, vết có diện (13 x 1) cm. Điểm thấp nhất cách đất 77,5 cm.
* Kết quả khám nghiệm tử thi Đặng Văn C
Tử thi nằm ngửa, bọc bên ngoài túi đựng tử thi màu đen, mặc ngoài áo khoác màu xanh, trên quần áo có nhiều vết rách do chà xát lê quệt, vùng lưng áo có bám nhiều tổ chức não dập nát. Trong mặc áo khoác màu đen, áo len kẻ ô li màu tím và áo thun màu ghi. Mặc ngoài quần dài màu đen, trên quần áo có bám nhiều vết bẩn, trong mặc quần đùi sáng màu và quần sịp màu đen. Hai chân đi tất màu đen. Vùng cổ có một sợi dây trang sức bằng kim loại màu trắng đã bị đứt.
Tử thi nam giới được gia đình và Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định là Đặng Văn C, sinh năm 1960 có nơi cư trú như trên.
- Chiều dài đỉnh - gót 172 cm; Thể tạng trung bình.
- Tình trạng tử thi:
- Tử thi lạnh co cứng.
- Hai mắt nhắm, vỡ nhãn cầu mắt phải, đồng tử mắt trái giãn.
- Vết hoen tử thi mờ nhạt tập trung mặt sau cơ thể.
- Vùng đầu mặt:
- Biến dạng vùng đầu mặt.
- Rách ra vùng chẩm bờ mép nham nhở kích thước 5 cm x 1 cm, qua vết rách da thấy lộ xương chẩm, tổ chức não thoát ra ngoài qua vết rách da.
- Sây sát da vùng trán thái dương phải kích thước 9 cm x 3 cm.
- Sây sát da vùng trán thái dương trái trên diện 23 cm x 9 cm.
- Sây sát da vùng trán giữa hai cung mày kích thước 2 cm x 0,5 cm.
- Sây sát da vùng mặt phải trên diện 19 cm x 10 cm.
- Sây sát da sống mũi kích thước 3 cm x 1,5 cm.
5
- Sây sát da môi trên kích thước 1,5 cm x 1 cm.
- Hai lỗ tai có nhiều máu chảy ra.
- Hai lỗ mũi, miệng có máu chảy ra.
- Gãy phức tạp xương hàm trên và xương hàm dưới.
- Sây sát da vùng cổ kích thước 18 cm x 10 cm.
- Sây sát da bả vai trái và mặt trên vai trái kích thước 8 cm x 8 cm.
- Mất vững vùng ngực phải.
- Sây sát, bầm tím da mặt trước vai phải kích thước 9 cm x 6 cm.
- Sây sát, bầm tím da mặt trước vai trái và ngực trái kích thước 10 cm x 10 cm.
- Tay phải:
- Sây sát da rải rác mu bàn tay và các ngón tay kích thước 10 cm x 8 cm.
- Sờ nắn không thấy gãy xương.
- Tay trái:
- Sây sát da mặt trước trong khuỷu tay kích thước 8 cm x 3 cm.
- Dập rách da lòng bàn tay kích thước 10 cm x 8 cm. Qua vết rách da thấy lộ gân cơ.
- Sây sát da mặt sau khuỷu tay kích thước 2 cm x 1 cm.
- Sây sát bầm tím da mặt sau cổ tay, mu bàn tay và các ngón tay kích thước 17 cm x 9 cm.
- Biến dạng cổ tay.
- Bụng không thấy sưng nề bầm tím da.
- Sây sát da vùng lưng trái kích thước 17 cm x 9 cm.
- Mông không thế sưng nề bầm tím da.
- Sây sát da hố chậu trái trên mào chậu trái kích thước 4 cm x 2 cm.
- Bộ phận sinh dục ngoài bình thường.
- Khung chậu vững.
- Tầng sinh môn không thấy tổn thương.
- Chân phải:
- Không thấy sưng nề bầm tím da.
- Sờ nắn không thấy gãy xương.
- Chân trái:
- Sây sát da mặt trước gối kích thước 6 cm x 3 cm và 5,5 cm x 2,5 cm.
- Sây sát da mặt ngoài gối kích thước 3 cm x 2 cm.
- Bầm tím da mặt trong gối kích thước 7 cm x 1,5 cm.
6
- Sờ nắn không thấy gãy xương.
- Ngoài các dấu vết đã mô tả không phát hiện thuơng tích nào khác.
- Mổ tử thi:
- Phần đầu
- Bầm tụ máu tổ chức dưới da đầu.
- Vỡ phức tạp toàn bộ xương vòm sọ: Vỡ xương trán, Vỡ xương đỉnh thái dương 2 bên, V xương chẩm, rách phức tạp toàn bộ màng cứng, tổ chức não dập thoát qua vết vỡ xương.
- Biến dạng toàn bộ đại não, cầu não, hành não, tiểu não.
- Vỡ phức tạp toàn bộ xương nền sọ: vỡ phức tạp xương trán, vỡ trần ổ mắt hai bên, V xương sàng, vỡ toàn bộ cánh xương bướm và thân xương bướm, vỡ xương đá, vỡ phức tạp toàn bộ xương chẩm.
- Vỡ toác nền sọ ra khỏi cột sống cổ.
- Phần Cổ - Ngực - Bụng:
- Không mổ.
- Gia đình cương quyết từ chối và ngăn cản nên không thể tiến hành pháp y thử thi phần cổ, ngực, bụng.
- Hai tay - Hai chân: Không mổ
Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 217/147/KLGĐ-TTPY ngày 28/02/2024 của Trung tâm P đối với: Đặng Văn C, sinh năm 1960, HKTT: phường T, quận N, Hà Nội trong vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 31/01/2024 tại đường G phường T, quận N, Hà Nội như sau:
- Các kết quả chính:
- Kết quả khám nghiệm:
- Biến dạng vùng đầu mặt.
- Vỡ phức tạp toàn bộ xương vòm sọ: Vỡ xương trán, vỡ xương đỉnh thái dương hai bên, vỡ xương chẩm, rách phức tạp toàn bộ màng cứng, tổ chức não dập thoát qua vết vỡ xương.
- Biến dạng toàn bộ đại não, cầu não, hành não, tiểu não.
- Vỡ phức tạp toàn bộ xương nền sọ: Vỡ phức tạp xương trán, vỡ trần ổ mắt hai bên, vỡ xương sàng, vỡ toàn bộ cánh xương bướm và thân xương bướm, vỡ xương đá, vỡ phức tạp toàn bộ xương chẩm.
- Vỡ toác nền sọ ra khỏi cột sống cổ.
Vùng đầu, mặt bị va đập, chèn ép bởi vật tày có diện tương đối rộng với lực tác động rất mạnh gây:
7
- Gãy phức tạp xương hàm trên và xương hàm dưới.
- Mất vững vùng ngực phải.
- Biến dạng cổ tay trái.
- Kết quả xét nghiệm, giám định khác:
- Kết luận giám định mô bệnh học: Dập não, dập tiểu não.
- Kết luận giám định độc chất:
- Mẫu máu của nạn nhân Đặng Văn C giám định: Có Ethanol, nồng độ 293,67mg/100ml máu.
- Mẫu máu của nạn nhân Đặng Văn C giám định: Không phát hiện, thấy các chất ma túy M, C1, C2, A, Methamphetamine, Ketamine, MDA, MDMA, MDEA.
- 2. Kết quả:
Kết luận nguyên nhân chết: Nạn nhân Đặng Văn C tử vong do Đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt nặng./.
Bản kết luận giám định dấu vết cơ học số: 2005/KL-KTHS ngày 25 tháng 3 năm 2024 của V1, Bộ C3 đối với các phương tiện liên quan trong vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 31/01/2024 tại đường G thuộc địa bàn phường T, quận N, Hà Nội kết luận:
- Dấu vết va chạm và vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô đầu kéo biển số 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 15R-148.83 và xe mô tô biển số 29T7-5649. Chiều hướng di chuyển của các phương tiện trong vụ tai nạn.
- Dấu vết va chạm và vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô đầu kéo biển số 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 15R-148.83 và xe mô tô biển số 29T7-5649.
- Tại thời điểm xảy ra dấu vết va chạm ghi nhận tại mục “a” nêu trên, xác định: Xe mô tô biển số 29T7-5649 di chuyển phía trước cùng chiều với xe ô tô đầu kéo biển số 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 15R-148.83.
- Dấu vết trượt bám dính chất màu nâu (dạng gỉ sắt) ở mặt ngoài bên phải đèn chiếu sang bên phải phía trước và mất nhựa màu đen ở mặt ngoài khung nhựa bảo vệ đèn chiếu sáng bên phải phía trước đầu xe ô tô đầu kéo biển số 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 15R-148.83 có chiều từ trước về sau (ảnh 4, 6 trong bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết trượt mất gỉ sắt màu nâu, bám dính chất màu đen (dạng nhựa) ở mặt ngoài đầu tay lái bên trái xe mô tô biển số 29T7-5649. Dấu vết ở xe mô tô tại vị trí này có chiều từ trái sang phải (ảnh 5, 7 trong bản ảnh giảm định).
- Dấu vết va chạm nêu trên ở hai phương tiện là vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô đầu kéo biển số 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 15R-148.83 và xe mô tô biển số 29T7-5649.
8
- Tốc độ xe ô tô đầu kéo biển số 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 15R-148.83 và xe mô tô biển số 29T7-5649 ngay trước khi xảy ra tai nạn.
- Tốc độ của xe ô tô đầu kéo biển số 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 15R-148.83 ngay tại thời điểm bắt đầu để lại dấu vết phanh (điểm đầu dấu vết phanh) trong khoảng 34,77 km/h đến 37,17 km/h.
- Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 29T7-5649 ngay trước khi xảy ra tai nạn.
- Ngày 31/01/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra chất kích thích bằng que thử ma túy đối với Trần Xuân T, kết quả: Âm tính (không có ma túy). Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn qua hơi thở đối với Trần Xuân T, kết quả: 0,000 mg/L.
- Bản kết luận định giá tài sản số: 51/KLĐGTS ngày 01 tháng 03 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận N kết luận:
Giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu ghi BKS: 29T7-5649 là 290.000 đồng (Hai trăm chín mươi nghìn đồng).
- Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra hệ thống camera tại số nhà A thuộc Tổ dân phố A M, phường T, N, Hà Nội trước khi xảy ra vụ tai nạn, xác định như sau: Khoảng 17 giờ 55 phút ngày 31/01/2024 có 01 xe mô tô do một người đàn ông điều khiển đi qua cửa nhà và đi bên trái xe mô tô là 01 xe ô tô đầu kéo; Kiểm tra hệ thống camera tại số nhà F thuộc Tổ dân phố A M, phường T, N, Hà Nội, xác định như sau: Khoảng 17 giờ 55 phút ngày 31/01/2024 có 01 xe mô tô do một người đàn ông điều khiển đang đi phía trước bên phải chiều từ ngã tư C về Đ, đi phía sau bên trái là 01 xe đầu kéo. Khi đi đến đối diện nhà số F thì xe container chuyển hướng sang phải thì va chạm vào xe máy và người đàn ông và đồng thời làm hàng bánh số 4, 5, 6 bên phải chèn qua người dẫn đến tai nạn giao thông.
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, xác định:
- Xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG, BKS: 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS: 15R-148.83 đăng ký chủ xe là công ty TNHH X do chị Nguyễn Thị Phương T3 (sinh năm: 1986, HKTT: SỐ D Đ, phường Đ, quận L, Hải Phòng) là giám đốc công ty. Xe không nằm trong dữ liệu xe vật chứng. Tại cơ quan điều tra, chị T3 trình bày xe ô tô đứng tên đăng ký là công ty do chị T3 làm giám đốc là chủ sở hữu. Ngày 01/3/2021, chị T3 ký hợp đồng với Trần Xuân T làm lái xe đầu kéo. Sau đó, chị T3 có giao xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG
9
màu bạc, BKS: 15C-358.92 kéo theo xe sơ mi rơ moóc nhãn hiệu CIMC màu xanh, BKS: 15R-148.83 cho Thao quản lý, sử dụng hàng ngày để chở hàng.
- Xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, BKS: 29T7-5649 đăng ký chủ xe là ông Đặng Văn C. Xe không nằm trong dữ liệu xe vật chứng. Bà Trương Thị H (sinh năm: 1958, HKTT: TDP N, phường T, N, Hà Nội) là vợ ông C và được gia đình ủy quyền làm việc với cơ quan điều tra. Tại cơ quan điều tra, bà H khai chiếc xe mô tô do ông C mua lại từ lâu để ông C sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày.
Ngày 26/4/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 1913 trao trả 01 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG màu bạc, BKS: 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc nhãn hiệu CIMC màu xanh, BKS: 15R-148.83; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-358.92; 01 giấy chứng nhận đăng ký sơ mi rơ moóc, BKS: 15R-148.83; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-358.92; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe sơ mi rơ moóc, BKS: 15R-148.83; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-358.92 cho chị Nguyễn Thị Phương T3 - đại diện theo ủy quyền; trao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu ghi BKS: 29T7-5649, 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS: 29T7-5649 cho bà Trương Thị H - đại diện theo ủy quyền. Bà Trương Thị H đã và chị Nguyễn Thị Phương T3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị về dân sự.
Đối với ông Đặng Văn C, quá trình điều tra xác định ông C đi đúng làn đường, giám định mẫu máu, kết quả: Có Ethanol, nồng độ 293,67mg/100ml máu (có sử dụng rượu bia). Tuy nhiên, do ông C đã chết do vụ tai nạn nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về dân sự: Gia đình Trần Xuân T đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.
Tại Bản cáo trạng số 127/CT-VKSNTL ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Trần Xuân T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1, Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Xuân T khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 127/CT-VKSNTL ngày 15/5/2024. Sau khi phân tích, đánh giá về nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo T, đại diện VKS đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Xuân T từ 15 tháng đến 18 tháng
10
tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Về dân sự: Gia đình Trần Xuân T đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự. Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Xuân T. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu không bị tạm giam, tạm giữ bởi một tội phạm khác. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bà Trương Thị H đại diện của gia đình bị hại vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên tại cơ quan điều tra bà không yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt, miễn trách nhiệm, đối với bị cáo Trần Xuân T nên không đề cập.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa và lời khai tại cơ quan điều tra không yêu cầu gì về dân sự nên không đề cập.
Lời nói sau cùng bị cáo Trần Xuân T nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trần Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các biên bản, tài liệu khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 17 giờ 55 phút ngày 31/01/2024, Trần Xuân T (có giấy phép lái xe hạng E, FC, không sử dụng rượu bia) một mình điều khiển xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG màu bạc, BKS: 15C-358.92 kéo theo sơ mi rơ moóc nhãn hiệu CIMC màu xanh, BKS: 15R-148.83 tham gia giao thông đi trên đường T thuộc quận N, Hà Nội, chiều từ ngã tư C đi Đại lộ T. Khi đi đến trước số nhà F đường tỉnh lộ 70 thuộc phường T, N, Hà Nội, đoạn cách chân cầu vượt Tây Mỗ
11
khoảng 30m, T điều khiển xe ô tô chuyển hướng sang phải để đi ra đường Đ. Do T điều khiển xe ô tô chuyển hướng không đảm bảo an toàn, không chú ý quan sát làm phần đầu phía trước bên phải xe ô tô (phần khu vực đèn chiếu sáng bên phải phía trước) va vào đầu núm tay lái bên trái xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu ghi, BKS: 29T7-5649 do ông Đặng Văn C điều khiển (có sử dụng rượu bia) đang đi phía trước bên phải cùng chiều xe ô tô dẫn đến tai nạn giao thông. Sau va chạm, ông C ngã xuống đường thì bị hàng bánh thứ 4, 5, 6 bên phải xe ô tô chèn qua người ông C, còn xe mô tô đổ xuống mặt đường. Hậu quả: Ông C tử vong do chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt nặng. Xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu ghi, BKS: 29T7-5649 bị thiệt hại giá trị là 290.000 đồng. Tại cơ quan điều tra, Trần Xuân T khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.
Nguyên nhân của vụ tai nạn trên do Trần Xuân T điều khiển xe ô tô tham gia giao thông không chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn đã gây tai nạn làm 01 người tử vong, vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Hành vi nêu trên của bị cáo T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
- [3] Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Xuân T là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Do hậu quả vụ tai nạn là ông Đặng Văn C. Do vậy, hành vi của bị cáo Trần Xuân T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Đối với bị hại là ông C (nạn nhân đã tử vong) cũng có lỗi là có nồng độ cồn trong người khi điều khiển xe máy, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Do vậy xác định là lỗi hỗn hợp.
Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Trần Xuân T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
- [4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- - Tình tiết tăng nặng: Không có.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã ra tự đầu thú, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Xuân T khai báo thành khẩn, ăn năm hối cải, bị cáo đã có thời gian công tác trong quân đội, gia đình bị
12
cáo có người thân có công với cách mạng. Gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bà Trương Thị H số tiền là 150.000.000 đồng, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng.
Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Xuân T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giám sát cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự, bị cáo T còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung, tuy nhiên bị cáo là đối tượng không nghề nghiệp, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [6] Về dân sự: Đại diện hợp pháp cho bị hại đã nhận được tiền bồi thường từ phía gia đình bị cáo, nên không có yêu cầu gì nữa. Do đó HĐXX không xem xét.
- [7] Về vật chứng: Đối với bằng lái xe của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
- [8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Xuân T phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- [9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Xuân T, Người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
13
Tuyên bố bị cáo Trần Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Trần Xuân T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.
Giao bị cáo Trần Xuân T cho UBND phường Y, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về dân sự : Đại diện hợp pháp cho bị hại đã nhận bồi thường và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe số [...] hạng E, FC mang tên Trần Xuân T, sinh 1975 được cấp ngày 13/12/2019 có giá trị đến 13/12/20214 (Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án tại 01 phong bì niêm phong dán kín mép đánh bút lục số 242).
Về án phí: Bị cáo Trần Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo:
- + Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- +Người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo những phần liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Thị Kim Thanh |
14
15
16
Bản án số 167/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 167/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
