|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 167/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 9 - 2024
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hoài
Ông Nguyễn Tất Thể
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 140/2024/TLST-HNGĐ ngày 11/7/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QĐXX-ST, ngày 30/8/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 73/2024/QĐ-ST ngày 15 tháng 9 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T; sinh ngày: 23/10/1996; HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ I, thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do ở Đài Loan. (Có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Hồ Thế T1; sinh ngày: 25/9/1993; HKTT: Thôn P, xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tự do ở Đài Loan. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Trần Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Hồ Thế T1 kết hôn vào ngày 27/9/2018 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống khoảng một năm đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn chủ yếu liên quan đến kinh tế. Đầu năm 2019, anh Hồ Thế T1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, sau khi anh T1 đi Đài Loan vợ chồng ít liên lạc dần, chị T cho rằng anh T1 đã có người phụ nữ khác dẫn đến tình cảm ngày càng rạn nứt và mâu thuẫn ngày càng lớn, vợ chồng ly thân từ lúc anh T1 đi Đài Loan đến nay. Vì kinh tế khó khăn nuôi con vất vả nên đầu năm 2021 chị T đi lao động tại Đài Loan, chị có gặp anh T1 để giải quyết mâu thuẫn nhưng hai vợ chồng vẫn không thể hòa hợp được. Hiện nay giữa chị T và anh T1 không còn liên lạc, không quan tâm chia sẽ gì với nhau nữa, mâu thuẫn vợ chồng càng ngày càng nghiêm trọng. Chị T nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị T muốn được ly hôn anh Hồ Thế T1.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hồ Trần Uyên L (sinh ngày 21/10/2018), nguyện vọng của chị T là được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh Hồ Thế T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do điều kiện công việc, chị T đi lao động tự do tại Đài Loan nên có nguyện vọng xin vắng mặt tại phiên tòa.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có công văn số 1542/CV-TA ngày 01/8/2024 về việc yêu cầu anh Hồ Thế T1 cung cấp địa chỉ và trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Thao . Tuy nhiên, anh T1 không phản hồi, không cung cấp địa chỉ và trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, thông qua người thân của anh Hồ Thế T1 là bà Hồ Thị T2 (mẹ đẻ của anh Hồ Thế T1) theo biên bản lấy lời khai ngày 09/8/2024 và ngày 29/8/2024: Bà Hồ Thị T2 trình bày: Các văn bản của Tòa án gửi cho anh Hồ Thế T1 thông qua gia đình bà, bà đã thông tin lại cho anh T1 được biết, anh T1 có trình bày: Anh T1 đồng ý ly hôn với chị Trần Thị T, về con chung: Anh T1 đồng ý giao con chung cháu Hồ Trần Uyên L ngày 21/10/2018 cho chị T nuôi dưỡng; về mức cấp dưỡng và về tài sản chung, nợ chung: Hai anh chị sẽ tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, về địa chỉ của anh T1 ở Đài Loan bà T2 có trao đổi yêu cầu của T3 án nhưng anh T1 không cung cấp địa chỉ cụ thể của anh T1 ở Đài Loan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 464, Điều 469, Điều 479, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị T, cụ thể:
- - Về tình cảm: Chị Trần Thị T được ly hôn anh Hồ Thế T1.
- - Về con chung: Giao con chung Hồ Trần Uyên L (sinh ngày 21/10/2018) cho chị Trần Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu L tròn 18 tuổi. Anh Hồ Thế T1 không phải cấp dưỡng nuôi con, anh T1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng:
Chị Trần Thị T có yêu cầu xin ly hôn với anh Hồ Thế T1. Anh Hồ Thế T1 hiện đang lao động tại Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Tại Công văn số 686/PA08-Đ1, ngày 18/7/2024 của Phòng PA08 Công an tỉnh H, xác nhận thông tin: Anh Hồ Thế T1, sinh ngày 25/9/1993, địa chỉ: Xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh ngày 12/4/2024 không thấy thông tin nhập cảnh trên hệ thống. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã có Công văn số 1542/CV-TA ngày 01/8/2024 cho anh Hồ Thế T1 thông qua người thân và qua 02 lần làm việc thông qua người thân của anh Hồ Thế T1 là bà Hồ Thị Thanh M đẻ của anh T1 về việc Tòa án yêu cầu cung cấp địa chỉ nhưng anh T1 không cung cấp địa chỉ của anh T1 tại Đài Loan, đây thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ; chị Trần Thị T có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tiến hành giải quyết vắng mặt chị Trần Thị T, anh Hồ Thế T1 theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Hồ Thế T1 đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 27/9/2018 tại UBND xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình xác định hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hợp pháp.
Theo chị Trần Thị T trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn chủ yếu liên quan đến kinh tế. Đầu năm 2019, anh Hồ Thế T1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, sau khi anh T1 đi Đài Loan vợ chồng ít liên lạc dần, chị T cho rằng ở bên Đài Loan anh T1 đã có người phụ nữ khác, tình cảm ngày càng rạn nứt và mâu thuẫn ngày càng lớn, vợ chồng ly thân từ lúc anh T1 đi Đài Loan đến nay. Vì kinh tế khó khăn nuôi con vất vả nên đầu năm 2021 chị T đi lao động tại Đài Loan, có gặp chồng để giải quyết nhưng hai vợ chồng vẫn không thể hòa hợp được, hiện nay giữa chị T và anh T1 không còn liên lạc, không quan tâm chia sẽ gì với nhau nữa. Mâu thuẫn vợ chồng càng ngày càng nghiêm trọng, chị T nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị T muốn được ly hôn anh Hồ Thế T1. Đồng thời thông qua người thân của anh T1 là bà Hồ Thị Thị T2 (mẹ đẻ của anh T1) cung cấp thông tin, được anh T1 trình bày đồng ý ly hôn với chị T1.
Xét thấy mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng hôn nhân giữa chị T và anh T1 không đạt được mục đích đó, vợ chồng không thương yêu, quan tâm, giúp đỡ nhau. Căn cứ quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thao X cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Hồ Thế T1 để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn.
[2.2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hồ Trần Uyên L (sinh ngày 21/10/2018), nguyện vọng của chị T là được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hồ Trần Uyên L đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh Hồ Thế T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Thông qua mẹ đẻ của anh T1 là bà Hồ Thị T2, thông tin lại cho Tòa án về ý kiến của anh T1, về vấn đề con chung vợ chồng anh chị sẽ tự thỏa thuận. Xét nguyện vọng của chị T là tự nguyện nên giao cháu Hồ Trần Uyên L (sinh ngày 21/10/2018) cho chị Trần Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu L tròn 18 tuổi, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con, có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.4] Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 464, Điều 469, Điều 479, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thao . Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Hồ Thế T1.
- Về con chung: Giao con chung Hồ Trần Uyên L (sinh ngày 21/10/2018) cho chị Trần Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu L tròn 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Anh Hồ Thế T1 không phải cấp dưỡng nuôi con, anh T1 có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị T, anh Hồ Thế T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
- Về án phí: Buộc chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000012 ngày 11/7/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bùi Văn Lam |
Bản án số 167/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 167/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Trần Thị Th được ly hôn anh Hồ Thế Tr
