|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số:167/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22 - 05 - 2024 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Thái Thị Hồng Vân |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Võ Duy Bảo |
| Ông Hồ Bá Võ |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 209/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/202/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hà Văn H; sinh năm 1971
- Bị đơn: Chị Vương Thị H1, sinh năm 1978;
Hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Xóm H, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An
Địa chỉ hiện nay: P, đường P B, Cộng hoà liên bang Đ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm H, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Hà Văn H trình bày:
Anh và chị Vương Thị H1 là người cùng xã, tìm hiểu để đi đến hôn nhân. Sau quá trình tìm hiểu anh và chị H1 đã tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, có sự chứng kiến của hai họ, gia đình hai bên, nhưng lúc đó chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn vì chị Vương Thị H1 chưa đủ tuổi. Sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau về mọi mặt, trong cuộc sống chung có nhiều bất đồng, bất hoà, hai bên không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Do đó, anh và chị H1 có những xử sự không đúng mực, thiếu tôn trọng nhau và đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Anh sang Đức làm ăn, còn chị H1 ở nhà, quá trình sống xa cách giữa anh và chị H1 không liên lạc, níu kéo. Anh xác định tình cảm giữa hai người không còn, do không làm thủ tục đăng ký kết hôn nên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị Vương Thị H1.
Về con chung: Anh và chị Vương Thị H1 có 03 con chung là Hà Thị D, sinh năm 1996, Hà Thị H2, sinh năm 1998 và Hà Thị L, sinh năm 2001. Hiện các con đã trên 18 tuổi, trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Hà Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Hà Văn H về Việt Nam và nộp thủ tục ly hôn, anh phải quay lại Cộng hòa Liên bang Đ nên anh uỷ quyền cho anh Hà Văn L1, sinh năm 1964; địa chỉ: Xóm H, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An giao và nhận các văn bản tố tụng của Toà án, đồng thời anh đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn chị Vương Thị H1 trình bày: Chị và anh Hà Văn H tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào tháng 12/1995. Trước khi cưới 01 tuần có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y. Tuy nhiên, chị không cung cấp được Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do chuyển nhà bị thất lạc. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H đi nước ngoài làm ăn và có tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm đến vợ con. Nay anh H làm đơn ly hôn thì chị cũng đồng ý ly hôn anh Hà Văn H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt các đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Hà Văn H, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Hà Văn H và chị Vương Thị H1. Về con chung: Các con đều đã trưởng thành, anh H không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết; Về tài sản chung: Anh H không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Vụ án hôn nhân và gia đình không có tranh chấp con chung, tài sản chung nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Hà Văn H có địa chỉ cư trú tại C Liên Bang Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với với chị Vươn Thị H3, chị H3 có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 130 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về thủ tục hòa giải: Theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì nguyên đơn anh Hà Văn H không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Hà Văn H đã nộp đơn khởi kiện, viết bản tự khai và cung cấp đầy đủ chứng cứ, tài liệu cho Tòa án nhưng do đang ở Cộng Hòa Liên Bang Đ nên không tham gia phiên tòa được và đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chị Vương Thị H1 có đơn đề nghị vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn H trình bày năm 1995 anh và chị chị Vương Thị H1 lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có sự chứng kiến của hai họ, gia đình hai bên, nhưng lúc đó chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn vì chị Vương Thị H1 chưa đủ tuổi. Bị đơn chị chị Vương Thị H1 trình bày chị và anh Hà Văn H tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào tháng 12/1995. Trước khi cưới 01 tuần có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y. Tuy nhiên, chị không cung cấp được Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do chuyển nhà bị thất lạc.
- Về con chung: Các con đã trên 18 tuổi, trưởng thành nên anh Hà Văn H và chị Vương Thị H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung: Anh Hà Văn H và chị Vương Thị H1 không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.
- Về án phí: Anh Hà Văn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Tại biên bản xác minh ngày 12/4/2024, của Toà án tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y thể hiện chị H1 và anh H không đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y. Nay anh Hà Văn H trình bày không còn tình cảm với chị H1 nữa nên đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị Vương Thị H1. Xét thấy, anh H chị H1 lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có làm lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương sau ngày 03/01/1987 nhưng đến nay không đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn: “Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ”.
Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”.
Từ những quy định của pháp luật đã viện dẫn trên, có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của anh H, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Hà Văn H và chị Vương Thị H1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53, Điều 122, Điều 123, Điều 130 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn H.
- - Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Hà Văn H và chị Vương Thị H1.
- - Về con chung: Không giải quyết.
- - Về tài sản chung: Không giải quyết.
- Về án phí: Anh Hà Văn H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004472 ngày 13/10/2023, tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Anh Hà Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được Bản án. Chị Vương Thị H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 167/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 167/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
