|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 167/2024/DS-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Xuân Minh
Ông Duyên Văn Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh. Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau: Bà Phạm Huỳnh Trang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 808/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm: 1966.
Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
Bị đơn: Bà Phạm Mỹ N. Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
Ông Tạ Hoàng V (Tạ Hoàng D). Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 9 năm 2023, cùng như lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn thể hiện:
Vào khoảng năm 2019 đến năm 2021, ông T có tham gia hụi do ông V, bà N làm chủ. Đến năm 2023, ông V, bà N đình hụi. Kết thúc các dây hụi ông V, bà N còn nợ lại ông T số tiền 167.000.000 đồng. Đến ngày 19/12/2023, ông V, bà N giấy cam kết nhận nợ, còn nợ lại ông T số tiền 167.000.000 đồng. Ông T yêu cầu ông V, bà N thanh toán cho ông T số tiền 167.000.000 đồng.
Đối với ông Tạ Hoàng V (D), bà Phạm Mỹ N mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo, triệu tập đến Toà án để giải quyết vụ án theo quy định nhưng ông Tạ Hoàng V, bà Phạm Mỹ N vắng mặt và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tai Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, vắng mặt tại các phiên hòa giải xét xử. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông V, bà N phải thanh toán cho ông T số tiền 167.000.000 đồng. Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa ông Phan Văn T với ông Tạ Hoàng V, bà Phạm Mỹ N là tranh chấp hụi. Nơi cư trú của bị đơn và nơi thực hiện giao dịch đều tại huyện T nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của ông Tạ Hoàng V, bà Phạm Mỹ N, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông V, và N không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Tạ Hoàng V, bà Phạm Mỹ N theo quy định.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo nguyên đơn, ông T có tham gia hụi do ông V, bà N làm chủ. Đến năm 2023, ông V, bà N đình hụi. Kết thúc các dây hụi ông V, bà N còn nợ lại ông T số tiền 167.000.000 đồng. Đến ngày 19/12/2023, ông V, bà N viết giấy cam kết nhận nợ, còn nợ lại ông T số tiền 167.000.000 đồng. Ông T yêu cầu ông V, bà N thanh toán cho ông T số tiền 167.000.000 đồng. Về phía bị đơn, Toà án đã thông báo, triệu tập theo quy định của pháp luật để bị đơn biết được yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, ông V, bà N đều vắng mặt, cũng không có ý kiến phản hồi, không có ý kiến gì khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, nguyên đơn cũng có cung cấp giấy nhận nợ ngày 07/8/2023 thể hiện ông V, bà N còn nợ lại ông T số tiền 167.000.000 đồng. Từ đó, có căn cứ xác định giao dịch giữa các bên được thực hiện như lời trình bày của nguyên đơn là có thật.
Ông Tạ Hoàng V và bà Phạm Mỹ N không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nên ông T yêu cầu ông V, bà N thanh toán cho ông T số tiền còn thiếu là phù hợp.
Như vậy, đề nghị của Đại diện viện kiểm sát về nội dung vụ án tại phiên toà là phù hợp. Yêu cầu của phía nguyên đơn đặt ra là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Ông V, bà N phải chịu án phí đối với nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán cho ông T. Ông Phan Văn T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự;
- - Căn cứ Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
- - Căn cứ Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn T. Buộc ông Tạ Hoàng V (D), bà Phạm Mỹ N có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phan Văn T số tiền 167.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi bảy triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- Về án phí: Ông Tạ Hoàng V (D), bà Phạm Mỹ N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.350.000 đồng (Tám triệu ba trăm năm chục ngàn đồng), chưa nộp. Ông Phan Văn T không phải chịu án phí, ông T có nộp tạm ứng án phí sơ thẩm số tiền 4.175.000 (Bốn triệu một trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007469 ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được trả lại.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, nguyên đơn tính kể từ ngày tuyên án, bị đơn tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Huệ |
Bản án số 167/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hụi
- Số bản án: 167/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hụi
