TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 167/2024/DS-PT
Ngày: 23-9-2024
V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Thái, ông Lương Thanh Chín.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 102/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 180/2024/QĐ-PT ngày 16/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 123a/2024/QĐ- PT ngày 30/8/2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đào C, sinh năm 1954 và bà Đỗ Thị Mộng L, sinh năm 1955.
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Đào C, sinh năm 1954.
Cùng địa chỉ: Xóm B, thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Ngọc S, sinh năm 1969 và bà Cao Thị B, sinh năm 1968.
Cùng địa chỉ thường trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ tạm trú: Xóm B, thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Đào Thị Thu S1, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Xóm B, thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận
+ Bà Đào Thị Thanh T, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
+ Ông Đào Vũ H, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Xóm B, thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
+ Bà Đào Thị Hồng M, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Chỗ ở hiện nay: Khu phố D, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
+ Bà Đào Thị Hồng N, sinh năm 1986
Địa chỉ: Tổ E, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt: Ông C, ông S, bà B
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Đào C và bà Đỗ Thị Mộng L do ông C đại diện trình bày:
Năm 1994, gia đình ông được nhà nước cấp diện tích 5.480 m² đất tại thôn P, xã H, thuộc thửa đất số 123, tờ bản đồ số 01, được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 529409 ngày 31/12/1998 đứng tên Đào C. Gia đình ông sinh sống và sử dụng đất ổn định đến nay.
Liền kề đất gia đình ông là đất của gia đình ông Huỳnh Ngọc S. Gia đình ông S sử dụng diện tích 4.816 m² đất do Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 865659 ngày 07/7/2010 đứng tên Huỳnh Ngọc S. Hai gia đình sử dụng đất liền kề nhau với ranh giới ổn định, ngăn bằng trụ bê tông xi măng, chỉ làm trụ ngăn cách, không rào lưới, hàng trụ này do gia đình ông S tự dựng ngăn cách đất hai nhà. Hai gia đình sinh sống ổn định hòa thuận với nhau. Đến năm 2019, ông S đổ bê tông làm sân lấn khỏi hàng bê tông sang phần đất nhà ông khoảng 15 phân. Đến tháng 12/2021, ông S tự ý để thùng xốp trồng cây và xây dựng nhà vệ sinh lấn sang đất nhà ông diện tích 40cm x 20m.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Huỳnh Ngọc S, bà Cao Thị B phải di dời phần nhà vệ sinh, thùng xốp trồng cây, nhổ cây trồng đã lấn sang phần đất nhà ông với diện tích 3,7m² để trả lại diện tích đất cho gia đình ông.
Bị đơn ông Huỳnh Ngọc S, bà Cao Thị B trình bày:
Vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng 01 đám ruộng có diện tích 4.816 m² của ông Nguyễn Thanh D vào năm 2007, đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 865659 ngày 07/7/2010 đứng tên Huỳnh Ngọc S. Khi nhận chuyển nhượng, ông bà đã tiến hành trồng thanh long, liền kề với ruộng của ông bà là ruộng của ông Đào C, giữa hai đám ruộng là bờ ruộng có chiều ngang chưa tới 01m để người dân đi lại, gánh lúa, canh tác.
Ông bà sử dụng đất ổn định đến cách đây khoảng 7 năm, không nhớ năm nào, ông bà đã xây dựng nhà vệ sinh, khi đó vẫn còn bờ chung, ông bà xây dựng nhà vệ sinh dưới lòng ruộng, sát mép bờ, khi xây dựng, ông Đào C có ra coi ngó nhưng không có ý kiến gì. Đến cách đây khoảng gần 02 năm, con trai ông Đ Cho xây nhà mới phá vỡ bờ ruộng nên hiện nay phần tranh chấp không còn bờ nữa, phần đất phía sau vẫn còn bờ. Bờ là để phân định ranh giới đất giữa hai bên, bên nào cũng có quyền sử dụng, trường hợp có chia bờ thì phải chia đôi. Trước đây, nhà nước có cắm cột mốc trên bờ để xác định lộ giới, hiện nay vẫn còn cột mốc này. Ông bà xác định việc ông bà sử dụng đất là ổn định, đúng diện tích được cấp, không lấn sang đất của ông Đ Cho nên không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào C.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Thống nhất ý kiến và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đưa vụ án ra xét xử tại Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024, quyết định:
Căn cứ vào:
- – Khoản 9 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- – Điều 163, 166, 175, Điều 176 Bộ luật dân sự năm 2015
- – Căn cứ Điều 4, Điều 5, Điều 26, Điều 97, Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 170 và Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013
- – Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình;
- – Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào C, bà Đỗ Thị Mộng L:
Xác định diện tích đất 3.7 m² (theo các tọa độ góc cạnh gồm các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6 tại Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp của Công ty TNHH T1-KS-đo đạc HTB lập ngày 22/8/2022 kèm theo) thuộc thửa đất số 123, tờ bản đồ số 01 diện tích 5.480 m² đất tại thôn P, xã H do Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 529409 cấp ngày 31/12/1998 đứng tên Đào C.
Buộc vợ chồng ông Huỳnh Ngọc S, bà Cao Thị B phải tháo dỡ, di dời (hoặc bằng các biện pháp khác) 01 phần nhà vệ sinh có diện tích 0,7m², các ống nhựa, cây trồng trên diện tích 3,7 m² đất để trả lại đất cho hộ ông Đào C.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, bị đơn bà Cao Thị B kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị đơn bà Cao Thị B vẫn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông S, bà C thống nhất nếu giao diện tích đất tranh chấp cho vợ chồng ông thì vợ chồng ông sẽ thanh toán cho ông C 1.000.000 đồng.
- - Nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Cao Thị B.
- - Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng; người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Tòa án sơ thẩm xác định bị đơn lấn đất của nguyên đơn là có căn cứ. Tuy nhiên, diện tích đất bị lấn không lớn, trên đất bị đơn đã xây dựng công trình kiên cố, việc buộc bị đơn tháo dỡ công trình để trả lại đất cho nguyên đơn sẽ gây khó khăn cho công tác thi hành án và gây lãng phí. Do đó, chỉ cần buộc bị đơn hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đã lấn chiếm của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn hoàn trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xác minh tại phiên tòa phúc thẩm, Căn cứ kết quả tranh tụng và đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm nhưng đã có văn bản xin giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt những đương sự này theo quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Cao Thị B:
[2.1] Bị đơn là ông S, bà B xác định giữa đất của nguyên đơn và bị đơn có bờ ruộng chung với chiều ngang chưa đến 1m nên mỗi bên có quyền sử dụng ½ diện tích bờ ruộng này, khi trồng trụ bê tông ngăn giữa hai nhà thì bị đơn trồng dưới lòng ruộng chứ không trồng trên bờ. Ông Đào C không thừa nhận trình bày của bị đơn, ông khẳng định ranh giới giữa hai thửa đất không có bờ, thời điểm giao đất là đất rừng phẳng, ông và ông D sử dụng đất trồng mía, không phải đất trồng lúa. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/8/2022 thể hiện: Diện tích đất tranh chấp nằm giữa nhà của nguyên đơn và bị đơn, trên đất có một phần nhà vệ sinh của bị đơn và một số trụ bê tông do bị đơn trồng, trên phần đất tranh chấp hiện không có bờ. Do thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông C và ông S không có tọa độ và diện tích tranh chấp rất nhỏ (3,7m², chỗ rộng nhất chỉ 24cm) nên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không xác định được phần đất tranh chấp thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào và giữa các giấy chứng nhận này có chồng lấn hay không. Giữa hai thửa đất của ông C và ông S hiện có các trụ bê tông do ông S trồng và trong nhiều năm nay các bên đã sử dụng theo ranh giới này. Do vậy, có căn cứ xác định hàng trụ bê tông do bị đơn trồng là ranh giới đất giữa hai bên.
[2.2] Bị đơn xác định đã trồng 3 trụ bê tông dọc theo thửa đất, khi xây nhà vệ sinh thì nhổ trụ thứ 2 và xây nhà vệ sinh trên ½ diện tích bờ ruộng, còn trụ bê tông thứ nhất và thứ 3 giữ nguyên. Theo trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 22/8/2022, phần ranh hiện trạng theo chỉ dẫn của bị đơn tính từ điểm mốc số 1 đến số 4 cong sang phần đất của ông C 3,7m² với chiều rộng chỗ lớn nhất là 24cm. Nối 3 điểm gồm: trụ bê tông thứ nhất, tường nhà vệ sinh của bị đơn và trụ bê tông thứ 3 thì không còn là đường thẳng, trong khi đó, ranh đất của bị đơn và nguyên đơn thời điểm được cấp đất theo bản đồ 299 và bản đồ đo đạc lại theo đề án 920 là đường thẳng. Như vậy, cấp sơ thẩm xác định bị đơn xây dựng nhà vệ sinh lấn qua phần đất của nguyên đơn là có căn cứ. Kháng cáo của bà Cao Thị B đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ.
[3] Đối với ý kiến của bị đơn về việc thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn:
Xét thấy, diện tích đất bị lấn chỉ có 3,7 m², chiều rộng chỗ lớn nhất 24cm, giá trị phần đất tranh chấp cũng không lớn (130.000đ/m2 x 3,7 m² = 481.000₫), trong khi giá trị tài sản trên đất là 22.198.000đ. Thửa đất của nguyên đơn sử dụng có diện tích lớn và diện tích đo đạc thực tế lớn hơn so với diện tích đất được cấp giấy chứng nhận là 175,7m² (5.655,7m² – 4.816m²), trên đất bị đơn đã xây dựng công trình, việc tháo dỡ công trình vừa khó khăn vừa gây lãng phí. Do vậy, khi công nhận bị đơn được quyền sử dụng đất tranh chấp và bị đơn thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn cũng đã đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn. Trị giá phần đất tranh chấp là 481.000đ, bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn 1.000.000₫ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm như phân tích trên.
[4] Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên bà Cao Thị B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Cao Thị B; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST, ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
Áp dụng:
- - Khoản 9 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 163, 166, 175, Điều 176 Bộ luật dân sự năm 2015
- - Điều 4, Điều 5, Điều 26, Điều 97, Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 170 và Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013
- - Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào C, bà Đỗ Thị Mộng L:
- - Xác định diện tích đất 3.7 m² (theo các tọa độ góc cạnh gồm các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 1 tại Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp của Công ty TNHH T1-KS-đo đạc HTB lập ngày 22/8/2022 kèm theo) thuộc thửa đất số 123, tờ bản đồ số 01 diện tích 5.480 m² đất tại thôn P, xã H do Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 529409 cấp ngày 31/12/1998 đứng tên Đào C.
- - Ông Huỳnh Ngọc S và bà Cao Thị B được quyền sử dụng phần đất có diện tích 3,7 m² (theo các tọa độ góc cạnh gồm các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 1 tại Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp của Công ty TNHH T1-KS-đo đạc HTB lập ngày 22/8/2022). Ông S, bà B phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Đào C và bà Đỗ Thị Mộng L là 1.000.000đ.
- Ông Huỳnh Ngọc S, bà Cao Thị B có trách nhiệm đăng ký biến động đối với phần diện tích 3,7 m² đất nêu trên.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Vợ chồng ông Huỳnh Ngọc S, bà Cao Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Cao Thị B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0013342 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc được trừ vào số tiền án phí dân sự sơ thẩm phải nộp.
- Về chi phí tố tụng:
Vợ chồng ông Huỳnh Ngọc S, bà Cao Thị B phải chịu 11.388.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản và phải hoàn trả cho ông Đào C vì ông C đã nộp tạm ứng số tiền này.
Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 23/9/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quản |
Bản án số 167/2024/DS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 167/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào C - Huỳnh Ngọc S
