Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2024/DS-PT

Ngày: 12-7-2024

“V/v Tranh chấp chia thừa kế QSD đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Kha

Các Thẩm phán: Ông Lê Quang Tấn

Ông Võ Văn Lịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Trịnh Văn Đương - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024, “V/v Tranh chấp chia thừa kế QSD đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 96/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn:

  1. Ông Đinh Minh Đ, sinh năm 1962, địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
  2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Đinh Minh Đ:

    • Luật sư Quách Ngọc L - Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư Thành phố C. Địa chỉ: Số A N, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
    • Luật sư Nguyễn D - Văn phòng L4, thuộc Đoàn luật sư tỉnh K. Địa chỉ: Số C H, Vĩnh Thanh V, Rạch G, Kiên Giang.
  3. Đinh Kim T, sinh năm 1960, địa chỉ: Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú hiện tại: ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bình Dương.
  4. Đinh Thị H, sinh năm 1967, Địa chỉ: ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  5. Đinh Thị N, sinh năm 1970, địa chỉ: số C đường C, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
  6. Ông Đinh Minh Đ1, sinh năm 1979, địa chỉ: khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  7. Ông Đinh Văn N1, sinh năm 1980, địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
  8. Đinh Thị Ú, sinh năm 1981, địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
  9. Đinh Thị Út N2, sinh năm 1982, địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
  10. Đinh Thị Út E, sinh năm 1983, địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

*Bị đơn:

  1. Ông Đinh Minh L1, sinh năm 1966, địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
  2. Lê Thị H1, sinh năm 1970, địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1954. Địa chỉ 1 N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Theo văn bản ủy quyền ngày 15/3/2024.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Kiên Giang, địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Người đại diện theo ủy quyền ông Văn Thanh H2- Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện V.
  2. Ngân hàng N4, chi nhánh V3, địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Người đại diện: Ông Phạm Đình V1, sinh năm 1965. Chức vụ Phó Giám đốc.

*Người làm chứng:

Trần Thị Q, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Đinh Minh Đ.

(Ông Đinh Minh Đ, Luật sư Quách Ngọc L, Luật sư Nguyễn D, bà Đinh Thị H, ông Đinh Minh Đ1, ông Đinh Minh L1, bà Lê Thị H1, ông Phạm Đình V1, bà Trần Thị Q, ông Nguyễn Ngọc S có mặt; bà Đinh Kim T, bà Đinh Thị N, ông Đinh Văn N1, bà Đinh Thị Ú, bà Đinh Thị Út N2, bà Đinh Thị Út E, ông Văn Thanh H2 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện đề 03/5/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án các nguyên đơn trình bày:

Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của gia đình ông Phạm Văn T1, trước đây ông Đ và ông L1 hùn nhau mua căn nhà và phần đất của ông Phạm Văn T1 và bà Đinh Kim T với số vàng là 30 chỉ. Lúc nhận chuyển nhượng thì để cho ông L1 đứng tên làm giấy tờ với ông T1, ông Đ và bà T không ký tên trong giấy mua bán. Sau đó do điều kiện kinh tế khó khăn nên ông L1 kêu cụ Trần Thị P (Mẹ các nguyên đơn và bị đơn) bán lại phần nhà, đất của L1 cho mẹ. Cụ thể vào ngày 15/02/2000 cụ Trần Thị P có mua lại căn nhà của ông Đinh Minh L1, khi mua xong ông Đinh Minh L1 có làm biên nhận cho cụ P với nội dung là ông nhận 15 chỉ vàng 24 kara và giao căn nhà cho cụ P làm chủ sở hữu. Căn nhà có tứ cận như sau:

Phía Đông giáp lộ Mai Văn Trương

Phía Tây giáp bà T2

Phía Nam giáp bà T

Phía Bắc giáp bà Năm V2.

Căn nhà có diện tích ngang 4,2 m dài 16 m tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, hiện nay đất đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 diện tích là 91,6 m². Nay các nguyên đơn thống nhất lấy diện tích theo tờ trích đo địa chính của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V làm căn cứ để xét xử vụ án.

Năm 2012 cụ P chết không để lại di chúc. Khi cụ P mất, bà Đinh Thị Út N2 ở căn nhà đến khi xả tang cụ P, sau đó bà Út N2 cũng đi làm ở Bình Dương căn nhà không ai sử dụng từ đó cho đến nay. Khi cụ P mất được 100 ngày ông Đ thỉnh cụ P về thờ cúng tại ấp K xã V, huyện V.

Nay các nguyên đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất cấp cho ông L1H1, phần đất tranh chấp ông L1 đã bán lại cho cụ P, cụ P chết không để lại di chúc yêu cầu chia thừa kế phần đất và nhà theo quy định của pháp luật cho các con cụ P.

*Tại phiên tòa sơ thẩm ông Đinh Minh Đ1 trình bày:

Phần đất tranh chấp là phần đất của ông Đ và ông L1 mua lại của bà Đinh Kim T và ông Phạm Văn T1 là anh chị hai, thời gian lâu quá nên ông không nhớ năm nào, trên phần đất tranh chấp có căn nhà. Sau khi mua nhà thì mẹ và 7 anh chị em vào chung sống. Lúc đó ông L1 sống ở S sau khi cưới vợ về sống chung một thời gian không thuận thảo nên ông L1 và vợ mới ra ở riêng. Lúc ra ở riêng ông L1 kêu cụ phước đưa lại phần vàng ông L1 mua nhà cho ông là 15 chỉ vàng 24 k rồi ra ở riêng. Lúc đó cụ phước không có vàng mới mượn của bà N đưa cho ông L1. Ông L1 lấy vàng ra mướn nhà ở riêng, rồi ông L1 mới mua chiếc xe chạy, không bao lâu thì ông chạy xe gây tai nạn giao thông dẫn đến chết người. Vì vậy, phần đất tranh chấp là của cụ phước đã mua lại của ông L1, nên ông yêu cầu chia thừa kế theo quy định. Yêu cầu ông L1, bà H1 giao phần nhà đất lại để chia thừa kế cho ông và các anh em khác, ông nhận giá trị tài sản. Ông thống nhất giá trị tài sản theo công ty Đ2 đã ban hành. Thống nhất lấy kết quả trên làm căn cứ để Tòa án xem xét giải quyết vụ án. Đối với yêu cầu của Ngân hàng N4 Chi nhánh huyện V khởi kiện ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 để kiện đòi số tiền vay ngân hàng. Ông không đồng ý việc vợ chồng ông L1 vay tiền thì vợ chồng ông có trách nhiệm trả nợ. Còn đất ông thế chấp vay tiền là đất của cụ phước để lại, nếu ông L1 không có khả năng trả nợ ngân hàng, ngân hàng có quyền xử lý tài sản khác của ông L1, bà H1 để thu hồi nợ, ông không đồng ý để ngân hàng phát mại tài sản thế chấp theo yêu cầu. Đối với yêu cầu phản tố của ông L1, bà H1 ông không đồng ý.

*Bà Đinh Thị H trình bày: Phần đất tranh chấp là phần đất của ông Đ và ông L1 mua lại của bà Đinh Kim T là chị hai với giá là 30 chỉ vàng 24 k trên phần đất tranh chấp có căn nhà. Sau khi mua nhà thì mẹ và 7 anh chị em vào chung sống. Lúc đó ông L1 sống ở S, khi cưới vợ về sống chung một thời gian thì do không thuận thảo nên ông L1 và vợ mới ra ở riêng. Lúc ra ở riêng ông L1 kêu cụ phước đưa lại phần vàng cho ông là 15 chỉ vàng 24 k rồi ra ở riêng. Lúc đó mẹ bà không có vàng mới mượn vàng của bà N đưa cho ông L1. Vì vậy bà xác định phần đất tranh chấp là của mẹ bà, bà yêu cầu chia thừa kế theo quy định. Giao phần nhà đất cho ông Đ, ông Đ có trách nhiệm giao tiền tương đương phần được hưởng thừa kế lại cho các anh em khác. Đối với yêu cầu của Ngân hàng N4 Chi nhánh huyện V khởi kiện ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 để kiện đòi số tiền vay ngân hàng. Bà có ý kiến: Việc vợ chồng ông L1 vay tiền thì vợ chồng ông có trách nhiệm trả nợ. Còn đất ông thế chấp vay tiền là đất của mẹ bà để lại, nếu ông L1 không có khả năng trả nợ ngân hàng, ngân hàng có quyền xử lý tài sản khác của ông L1 để thu hồi nợ, bà không đồng ý để ngân hàng phát mại tài sản thế chấp theo yêu cầu. Đối với yêu cầu phản tố của ông L1, bà H1 bà không đồng ý.

Nay bà yêu cầu theo giá trị Trung tâm thẩm định giá đã ban hành trong hồ sơ, không yêu cầu định giá lại thống nhất lấy kết quả trên làm căn cứ để Tòa án xem xét. Bà yêu cầu chia thừa kế phần bà được nhận bà để lại chia đều cho các anh chị em khác.

*Bà Đinh Kim T trình bày: Phần đất tranh chấp nguồn gốc là của bà và ông Phạm Văn T1 có được do bà Phạm Thị L2 cho nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Đến năm 1996 ông bà bán lại cho ông Đ và ông L1 là em của bà với giá 30 chỉ vàng 24 k trên phần đất tranh chấp có căn nhà. Thời điểm bán nhà có làm giấy tay do ông T1 và ông L1 ký, sau đó bà giữ giấy cho đến khi xảy ra tranh chấp, trước đây giấy tay mua bán là do bà giữ nhưng sau đó ông T1 lấy trộm của bà rồi làm lại giấy khác cho ông L1. Sau khi mua nhà thì mẹ và 7 anh chị em vào chung sống trừ bà, ông L1, ông Đ vì bà có chồng ở riêng, ông L1 và ông Đ đi làm lâu lâu mới về. Lúc đó ông L1 sống ở S khi cưới vợ về sống chung một thời gian do không thuận thảo nên ông L1 và vợ mới ra ở riêng. Lúc ra ở riêng ông L1 kêu cụ phước đưa lại phần vàng cho ông là 15 chỉ vàng 24 k rồi ra ở riêng. Mẹ bà không có vàng mới mượn của bà N đưa vàng cho ông L1. Vì vậy bà xác định phần đất tranh chấp là của mẹ bà, bà yêu cầu chia thừa kế theo quy định. Phần bà được nhận bà để lại để chia cho các em khác. Giao phần nhà đất cho ông Đ, ông Đ có trách nhiệm giao tiền tương đương phần được hưởng thừa kế lại cho các anh em khác. Đối với yêu cầu của Ngân hàng N4 Chi nhánh huyện V khởi kiện ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 để kiện đòi số tiền vay ngân hàng. Bà không đồng ý việc vợ chồng ông L1 vay tiền thì vợ chồng ông có trách nhiệm trả nợ. Còn đất ông thế chấp vay tiền là đất của mẹ để lại, nếu ông L1 không có khả năng trả nợ ngân hàng, ngân hàng có quyền xử lý tài sản khác của ông L1 để thu hồi nợ, bà không đồng ý để ngân hàng phát mại tài sản thế chấp theo yêu cầu. Đối với yêu cầu phản tố của ông L1, bà H1 bà không đồng ý.

*Ông Nguyễn Ngọc S người đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Minh L1, Lê Thị H1 trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp do ông L1 nhận chuyển nhượng của ông Phạm Văn T1 là chồng của bà Đinh Kim T vào năm 1993, mua đất là có căn nhà, sau đó gia đình mới dọn về sinh sống trong căn nhà ông L1 mua, gia đình gồm có cụ phước và các anh chị em của ông L1 trong đó có ông Đinh Minh Đ. Đến năm 2010 ông Đ có gia đình chuyển về Đ, xã V sống. Năm 2012 mẹ ông L1 là bà Trần Thị P qua đời sau đó các anh em cũng đi làm xa bỏ căn nhà không ai ở. Năm 2017 ông L1 mới lập thủ tục đăng ký và được cấp giấy chứng nhận QSD đất phần đất tranh chấp và năm 2018 mới được cấp giấy chứng nhận QSD đất.

Ông S xác định nguồn gốc đất là của ông L1 mua của ông T1 không phải của cụ P.

Phần đất tranh chấp là của ông L1, bà H1 nên không đồng ý theo yêu cầu của các nguyên đơn.

Đối với yêu cầu của Ngân hàng N4 Chi nhánh huyện V ông L1, bà H1 đồng ý trả số tiền vay hiện vợ chồng ông còn thiếu. Thời điểm khởi kiện QSD đất đã được công nhận cho ông L1, bà H1 là hợp pháp. Việc thế chấp là do điều kiện kinh tế khó khăn và sự hiểu biết hạn chế, Tòa án đã thông báo đất tranh chấp mà đi thế chấp ngân hàng vay tiền.

Đất là tài sản hợp pháp của ông L1, bà H1 nhưng các nguyên đơn tranh chấp khởi kiện làm hạn chế quyền sử dụng đất của bị đơn. Vì vậy, ông L1, bà H1 yêu cầu ông Đ và các nguyên đơn phải liên đới bồi thường cho ông L1H1 số tiền 28.000.000 đồng. Phần đất là tài sản hợp pháp của ông L1, bà H1 nên việc ông Đ khởi kiện đã làm hạn chế quyền sử dụng phần đất vì vậy yêu cầu bồi thường số tiền 28.000.000 đồng là số tiền tượng trưng, thực chất thiệt hại còn nhiều hơn.

*Ông L1 có ý kiến trình bày: Trước đây mẹ ông là cụ phước có cố đất cho ông S1, sau đó ông về chuộc lại với giá tương đương15 chỉ vàng 24k, sau này mẹ ông trả lại cho ông 15 chỉ vàng 24 k trên, phần đất khi chuộc lại giao cho mẹ thì mẹ đã bán cho Đinh Thị H, khi nhận vàng chỉ có ông và mẹ là cụ phước biết nhưng không ký bất cứ giấy tờ gì, số vàng mẹ giao cho ông không biết từ đâu mẹ có. Đối với giấy ông Đ cung cấp là nhận vàng bán nhà là không có, ông xác định là không có ký tên vào giấy trên. Phần đất và căn nhà là do ông mua của ông Phạm Văn T1 bằng số vàng 35 chỉ vàng 24k, ông mua nhà đất một mình không mua cùng ông Đ và thời điểm trên ông Đường k đưa vàng cho ông để cùng mua nhà như lời ông Đ và các anh chị em khác trình bày.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Đình V1-Người đại diện Ngân hàng N4, chi nhánh V3 có ý kiến trình bày: Vào tháng 9 năm 2020 Ngân hàng N4, chi nhánh V3 thỏa thuận với ông L1, bà H1 để cho ông L1H1 vay tổng số tiền vốn là 539.000.000 đồng, lãi còn thiếu tính đến ngày 19/12/2023 là 160.610.519 đồng. Tổng số tiền ông L1, bà H1 nợ Ngân hàng là 701.442.698. đồng.

Hiện nay hợp đồng vay trên đã quá hạn nên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L1H1 phải thanh toán số tiền vay cho ngân hàng T5 vốn 539.000.000 đồng, lãi 160.610.519 đồng. Trường hợp ông L1H1 không thanh toán tiền thì ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để trả toàn bộ số nợ vay còn thiếu. Việc ông L1, bà H1 ký kết hợp đồng vay tiền là hợp pháp, tài sản khi vay là tài sản của ông L1, bà H1. Trong trường hợp Tòa án giải quyết chia thừa kế phần đất đang thế chấp, Ngân hàng yêu cầu phải giải quyết số tiền vay xong mới chia thừa kế.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Đinh Minh Đ, ông Đinh Minh Đ1, ông Đinh Minh N3, bà Đinh Kim T, bà Đinh Thị H, bà Đinh Thị N, bà Đinh Thị Ú, bà Đinh Thị Út E và bà Đinh Thị Út N2 về việc yêu cầu huỷ giấy chứng nhận QSD đất số phát hành CK 555268, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CCN: CH 01709 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 02/5/2018, diện tích 91,6m², tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, thuộc thửa 01, tờ bản đồ số 106-2017 do ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Đinh Minh Đ, ông Đinh Minh Đ1, ông Đinh Minh N3, bà Đinh Kim T, bà Đinh Thị H, bà Đinh Thị N, bà Đinh Thị Ú, bà Đinh Thị Út E và bà Đinh Thị Út N2 về việc chia thừa kế phần nhà và đất tranh chấp theo tờ trích đo địa chính số theo tờ trích đo địa chính số chính số 229-2021 của Chi nhánh Văn Phòng đăng ký đất đai huyện V ban hành gồm các cạnh 1, 5, 6, 4 có diện tích 96,3 m²; thuộc thửa đất số 01 tờ bản đồ số 106-2017 do ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất. Đất tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị H1, ông Đinh Minh L1 về việc yêu cầu ông Đinh Minh Đ, ông Đinh Minh Đ1, ông Đinh Minh N3, bà Đinh Kim T, bà Đinh Thị H, bà Đinh Thị N, bà Đinh Thị Ú, bà Đinh Thị Út E và bà Đinh Thị Út N2 liên đới bồi thường số tiền 28.000.000 đồng (theo bảng kê chi tiết gửi tòa án gồm các khoản gồm chi phí hỗ trợ đi lại, hướng dẫn pháp luật, làm đại diện tham gia vụ án 15 triệu; công ăn, việc làm bị mất của 02 người trong 15 ngày bằng 200 nghìn đồng x 15 ngày x 02 người = 06 triệu đồng; tìm chứng cứ nộp cho Tòa án là 03 triệu đồng; bù đắp sức khỏe, tinh thần suy giảm là 02 triệu đồng; chi phí khác cho việc hầu kiện là 02 triệu đồng).
  4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng N4, chi nhánh V3. Buộc ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 phải trả cho ngân hàng số tiền 701.442.986 đồng, trong đó vốn gốc là 539.000.000 đồng, lãi suất còn thiếu là 160.610.519 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 19/12/2023 ông L1, bà H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông L1, bà H1 không thanh toán số tiền như thỏa thuận, Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án kê biên phát mại tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 7703-LCL-202003669 ngày 22/9/2020 gồm: Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận QSD đất số CK 555268, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CCN:CH 01709 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 02/5/2018 cụ thể diện tích 91,6m², tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, thuộc thửa 01, tờ bản đồ số 106-2017 do ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.

Kể từ ngày ông L1, bà H1 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng N4 có trách nhiệm hoàn trả cho ông L1, bà Hoàng Q1 sử dụng đất theo giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CK 555268, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CCN: CH 01709 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 02/5/2018 cụ thể diện tích 91,6m², tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, thuộc thửa 01, tờ bản đồ số 106-2017 do ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 05/01/2024, nguyên đơn ông Đinh Minh Đ có đơn kháng cáo với nội dung:

Yêu cầu chia thừa kế phần tài sản của mẹ là bà Trần Thị P để lại cho mười người con theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Đinh Minh Đ giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo.

Bị đơn ông Đinh Minh L1 không có kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

Luật sư Quách Ngọc L trình bày tranh luận:

Về nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Đ và ông L1 nhận chuyển nhượng của ông Phạm Văn T1 và bà Đinh Kim T vào năm 1996. Đến năm 2000 do điều kiện gia đình, ông L1 ra ở riêng và đã nhận lại phần vàng chuyển nhượng nhà của ông T1 từ cụ phước đồng thời giao quyền sở hữu căn nhà lại cho cụ phước. Khi nhận vàng ông L1 ký nhận biên nhận lập ngày 15/02/2000, hiện nay ông L1 không thừa nhận chữ ký trong biên nhận trên, nhưng có nhiều căn cứ chứng minh ông L1 nhận vàng và giao căn nhà lại cho cụ phước nên quyền sở hữu căn nhà không còn là của ông L1 điều này được chứng minh qua các tình tiết như sau:

Thứ nhất mặc dù kết luận giám định của Phân Viện Khoa học hình sự Công An thành phố H kết luận không đủ cơ sở kết luận chữ ký của ông L1, nhưng qua quá trình so sánh mẫu chữ ký của ông L1 vào thời điểm năm 2000 có nhiều nét tương đồng để khẳng định có cơ sở xác định chữ ký trên biên nhận là của ông L1. Lý do không đủ cơ sở xác định chữ ký của ông L1 là do chữ ký thay đổi theo thời gian, ông L1 không phải là người làm việc thường xuyên nên chữ ký không cố định là điều đương nhiên. Mặc dù kết luận giám định không đủ căn cứ xác định chữ ký của ông L1, nhưng có nhiều người xác nhận vào thời điểm trên ông L1 nhận vàng có ký vào biên nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Thứ hai: Ông L1 trình bày khi ra tù vào năm 2004 ông L1 thuê nhà ở chứ không về nhà đang tranh chấp ở, lý do vì sao ông không về nhà của ông để ở mà lại đi mướn nhà để ở chỉ trong trường hợp nhà trên không phải của ông.

Thứ ba: Ông L1 xác nhận có nhận của cụ phước 15 chỉ vàng, ông cho rằng đó là số vàng ông chuộc đất khi cụ phước cố đất cho ông S1, nhưng các đương sự đều xác định khi chuộc đất cố của ông S1 là do ông Đ và ông L1 cùng chuộc và chuộc bằng lúa chứ không phải chuộc bằng vàng và trong giấy do ông Long cung c xác nhận của ông S1 là chưa phù hợp vì ông S1 ở Cà Mau, nhưng giấy xác nhận lại thực hiện tại Rạch G. Ông L1 không chứng minh được việc nhận 15 chỉ vàng từ cụ phước là số vàng cụ phước trả cho ông khi ông chuộc đất nên có căn cứ chứng minh ông L1 nhận vàng là bán căn nhà tranh chấp cho cụ phước.

Thứ tư: Việc niêm yết công khai trong hồ sơ khi cấp giấy cho ông L1 là niêm yết mất trang bổ sung, việc cấp giấy cho ông L1 là cấp theo thủ tục công nhận QSD đất chứ không phải cấp theo thủ tục nhận chuyển nhượng QSD đất.

Thứ Năm: Vì sao ông T1 lại làm 02 tờ giấy chuyển nhượng cho ông L1, nhưng số vàng thì lại khác nhau, giấy trước ghi số vàng là 30 chỉ giấy sau là 35 chỉ điều này có sự bất thường. Vì ông T1 xác định 02 giấy chuyển nhượng đều do ông làm, nhưng làm giấy sau là do ghi diện tích đất không đúng. Nhưng số vàng trong tờ giấy chuyển nhượng sau cũng không đúng.

Thứ Sáu: Vì sao đất đang tranh chấp nhưng ông L1, bà H1 lại đi thế chấp vay tiền tại ngân hàng, sau khi vay trong thời gian ngắn lại có đơn yêu cầu ngân hàng xử lý tài sản thế chấp để trả nợ. Mục đích của ông L1, bà H1 là gì?

Thứ bảy: Những người làm chứng trình bày thời gian ông L1 nhận vàng của cụ phước có sự chênh lệch là do lâu quá họ nhớ không chính xác nhưng thời điểm trước đây họ đều xác định ông L1 có nhận vàng để bán căn nhà cho cụ P là sự thật.

Thứ T3: Trong gia đình 10 người thì 9 người đã không ủng hộ ông L1, tất cả đều phản đối việc làm của ông L1 nên đề nghị HĐXX xem xét.

Đối với yêu cầu phản tố của ông L1, bà H1 yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 28.000.000 đồng trong đó tiền tổn thất tinh thần và chi phí theo hầu vụ kiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, các nguyên đơn xác định tài sản là di sản của cụ P nay yêu cầu chia thừa kế là phù hợp theo quy định của pháp luật. Các nguyên đơn là công dân họ xác định quyền lợi bị xâm phạm đi kiện là quyền dân sự. Bị đơn không vì bị kiện mà phải tốn những chi phí phát sinh như đã trình bày để yêu cầu. Điều này là không phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét công nhận phần đất tranh chấp là tài sản của cụ P để lại chưa chia. Đề nghị hủy giấy chứng nhận QSD đất cấp cho ông L1H1 để chia thừa kế theo pháp luật cho những người thuộc diện thừa kế thứ nhất của cụ P.

*Luật sư Nguyễn D trình bày tranh luận:

Đây là quan hệ tranh chấp quyền sử dụng đất, bắt buộc phải có hòa giải cơ sở, tuy nhiên cấp sơ thẩm không làm thủ tục này. Đất đang tranh chấp mà thế chấp nên việc thế chấp là vô hiệu. Khi ông L1 làm thủ tục cấp giấy, ông Đ có ngăn cản nhưng vẫn cấp giấy, quá trình cấp giấy là có sai sót cực kỳ nghiêm trọng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang nêu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Minh Đ, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Minh Đ về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm bà Đinh Kim T, bà Đinh Thị N, ông Đinh Văn N1, bà Đinh Thị Ú, bà Đinh Thị Út N2, bà Đinh Thị Út E, ông Văn Thanh H2 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên áp dụng khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[2] Về nội dung kháng cáo của bản án sơ thẩm:

Nguyên đơn ông Đinh Minh Đ kháng cáo yêu cầu chia thừa kế phần tài sản của mẹ là bà Trần Thị P để lại cho mười người con theo quy định của pháp luật.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà các đương sự thống nhất xác định: Cụ Trần Thị P là mẹ các đương sự chết năm 2012, chồng cụ Trần Thị P là cụ Đinh Minh P2 cũng đã chết cụ P2 có tất cả 10 người con gồm bà Đinh Kim T, ông Đinh Minh Đ, ông Đinh Minh L1, bà Đinh Thị H, bà Đinh Thị N, ông Đinh Minh Đ1, ông Đinh Minh N3, bà Đinh Thị Ú, bà Đinh Thị Út N2, và Đinh Thị Út E. Cụ Trần Thị P chết năm 2012 không để lại di chúc. Ngoài ra, cha, mẹ cụ P đều đã chết và họ không có nhận ai làm con nuôi hợp pháp. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã căn cứ Điều 613, 651 của Bộ luật dân sự xác định bà T, ông Đ, ông L1, bà H, bà N, ông Đ1, ông N3, bà Ú, bà Ú nhì, bà Út E thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ P là đúng quy định của pháp luật.

Diện tích đất tranh chấp theo tờ trích đo địa chính số chính số 229-2021 của Chi nhánh Văn Phòng đăng ký đất đai huyện V ban hành gồm các cạnh 1, 5, 6, 4 có diện tích 96,3 m²; thuộc thửa đất số 01 tờ bản đồ số 106-2017 do ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất. Đất tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Trên phần đất tranh chấp có căn nhà cấp 4, diện tích kết cấu theo chứng thư số 810/2022/CT-BĐS/MIVC, của Công ty cổ phần T6 giá và tư vần đầu tư Miền T. Các Đương sự thống nhất xác định giá trị đất tranh chấp là 1.638.930.000 đồng và giá trị nhà là 49.675.000 đồng. tổng giá trị tài sản là 1.688.605.000 đồng. Các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế giá trị tài sản 1.688.605.000 đồng thành 10 phần, mỗi người một phần trị giá 168.860.500 đồng, Nhà đất đang do ông Đinh Minh L1 quản lý.

Các nguyên đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất với diện tích 96,3 m² đất thuộc thửa đất số 01 tờ bản đồ số 106-2017 do ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất. Đất tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Các nguyên đơn cho rằng phần đất trên ông Đinh Minh L1 đã bán lại cho cụ Trần Thị P, nên phần đất thuộc quyền sở hữu của cụ Trần Thị P, vì vào năm 1996 ông L1 và ông Đ cùng nhau nhận chuyển nhượng phần đất và căn nhà trên đất của ông Phạm Văn T1 và bà Đinh Kim T với giá 30 chỉ vàng 24 k, đến ngày 15/02/2000 ông L1 đã nhận 15 chỉ vàng 24k từ cụ P và làm biên nhận nhận vàng đồng thời giao quyền sở hữu căn nhà trên cho cụ P nên việc Ủy ban nhân dân huyện V cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông L1H1 là không đúng quy định nên các nguyên đơn yêu cầu hủy.

Nguồn gốc phần đất tranh chấp trên đó có căn nhà là của ông Pham Văn T4, việc này tất cả các đương sự đều xác định không tranh chấp. Ông T4 xác định ông chuyển nhượng nhà và đất cho ông L1 vào năm 1993, tuy việc chuyển nhượng chỉ làm giấy tay, nhưng đó là căn cứ để ông L1, bà H1 xác lập quyền sở hữu và hiện nay ông L1H1 đã được Ủy ban nhân dân huyện V cấp giấy chứng nhận QSD đất vào năm 2018. Nay Ủy ban nhân dân huyện V xác định việc cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông L1H1 là đúng theo trình tự thủ tục quy định. Nên các nguyên đơn xác định việc cấp giấy cho ông L1H1 không đúng yêu cầu hủy là không có căn cứ.

Việc các nguyên đơn cho rằng ông L1 đã nhận 15 chỉ vàng từ cụ P là đã bán căn nhà, việc nhận vàng có làm biên nhận và ông đã thống nhất giao quyền sở hữu 1/2 căn nhà của ông lại cho cụ P, việc này ông L1 không thừa nhận, biên nhận các nguyên đơn cung cấp xác định là chứng cứ chứng minh việc ông L1 chuyển quyền sở hữu phần căn nhà của ông nhận chuyển nhượng từ ông T4 cho cụ P. Tòa án đã tiến hành giám định kết quả không xác định được chữ ký trong tờ biên nhận là của ông L1 nên không có căn cứ chứng minh. Lời khai của những người làm chứng đều xác định việc ông L1 nhận vàng và bán lại căn nhà cho cụ P họ chỉ nghe qua lời kể của ông Đ và thời gian là sau năm 2004 khi ông L1 ra tù, trong khi biên nhận thể hiện ông L1 nhận vàng từ cụ P vào năm 2000. Ngoài ra các nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ nào khác có giá trị chứng minh phần đất tranh chấp ông L1 đã bán cho cụ P.

Đối với thủ tục cấp giấy chứng QSD đất cho ông L1, bà H1 Ủy ban nhân dân đã thực hiện đúng trình tự, mặc dù trong thủ tục có phần sai sót tại bút lục số 48 biên bản về việc nêm yết công khai cấp giấy chứng nhận QSD đất của ông Đinh Minh L1 trong phần nội dung niêm yết công khai “Mất trang đang ký bổ sung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông (bà) Đinh Minh L1”, đây là sai sót do lỗi đánh máy, nhưng còn lại tất cả các nội dung trong quá trình thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông L1 là đúng quy định. Về nguồn gốc đất là nhận chuyển nhượng QSD đất trong tất cả hồ sơ đều thể hiện. Không có chứng cứ xác định giấy chứng nhận QSD đất cấp cho ông L1, bà H1 là không đúng.

Đối với yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn: Như đã phân tích và nhận định ở trên thì đây không phải là di sản thừa kế của cụ P để lại nên yêu cầu chia thừa kế là không có cơ sở để chấp nhận.

Xét yêu cầu phản tố của bà Lê Thị H1, ông Đinh Minh L1 thấy rằng:

Yêu cầu các nguyên đơn liên đới bồi thường tổng số tiền 28.000.000 đồng (Theo bảng kê chi tiết gửi tòa án gồm các khoản gồm chi phí hỗ trợ đi lại, hướng dẫn pháp luật, làm đại diện tham gia vụ án 15 triệu; công ăn, việc làm bị mất của 02 người trong 15 ngày bằng 200 nghìn đồng x 15 ngày x 02 người = 06 triệu đồng; tìm chứng cứ nộp cho Tòa án là 03 triệu đồng; bù đắp sức khỏe, tinh thần suy giảm là 02 triệu đồng; chi phí khác cho việc hầu kiện là 02 triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định phải có thiệt hại thực tế xảy ra, người gây thiệt hại phải có lỗi. Trong trường hợp này cả nguyên đơn và bị đơn đều thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy trong vụ kiện này yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị đơn đối với các nguyên đơn là chưa phù hợp theo quy định tại Điều 584, 589, 590 Bộ Luật dân sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Xét yêu cầu độc lập của Ngân hàng N4 Chi nhánh V3:

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Phạm Đình V1 và ông L1, bà H1 đều xác định quá trình ký kết hợp đồng vay tiền, số tiền vay, thời gian vay và thời gian vi phạm hợp đồng. Nay ngân hàng yêu cầu ông L1, bà H1 trả số tiền còn thiếu là 701.442.986 đồng, ông L1H1 thống nhất trả số tiền trên nhưng do điều kiện kinh tế hiện khó khăn chưa có khả năng thanh toán, sau khi giải quyết xong vụ kiện ông bà sẽ trả toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng. Xét thấy các đương sự thống nhất xác định quá trình vay nợ, số tiền vay cũng như thời gian vi phạm nghĩa vụ và ông L1, bà H1 thống nhất trả số tiền còn thiếu nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc ông L1, bà H1 có nghĩa vụ trả số tiền còn thiếu cho ngân hàng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 19/12/2023 ông L1, bà H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông L1, bà H1 không thanh toán số tiền như thỏa thuận, Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án kê biên phát mại tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 7703-LCL-202003669 ngày 22/9/2020 gồm: Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận QSD đất số CK 555268, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CCN:CH 01709 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 02/5/2018 cụ thể diện tích 91,6m², tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, thuộc thửa 01, tờ bản đồ số 106-2017 do ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.

Kể từ ngày ông L1, bà H1 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng N4 có trách nhiệm hoàn trả cho ông L1, bà Hoàng Q1 sử dụng đất theo giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CK 555268, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CCN: CH 01709 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 02/5/2018 cụ thể diện tích 91,6m², tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, thuộc thửa 01, tờ bản đồ số 106-2017 do ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.

[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Minh Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

[5] Về chi phí tố tụng:

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 940.000 đồng đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn không được chấp nhận nên các nguyên đơn phải chịu toàn bộ cụ thể mổi người phải chịu 104.444 đồng, ông Đinh Minh Đ đã nộp xong số tiền 940.000 đồng theo hóa đơn giá trị gia tăng ngày 16/11/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện V. Các nguyên đơn khác phải hoàn trả lại cho ông Đinh Minh Đ mổi người 104.444 đồng.

Chi phí định giá là 10.543.000 đồng yêu cầu của các nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu toàn bộ, cụ thể mỗi người phải chịu 1.171.444 đồng và ông Đ đã nộp xong số tiền 10.543.000 đồng theo hóa đơn giá trị gia tăng số 00000008, ngày 01 tháng 3 năm 2023 Của Công ty cổ phần thẩm định giá và tư vấn đầu tư Miền T. Các nguyên đơn khác phải hoàn trả lại cho ông Đinh Minh Đ mỗi người 1.171.444 đồng.

[6] Về án phí dân sự:

[6.1] Án phí sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất không được chấp nhận nên các nguyên đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch mỗi người là 300.000 đồng.

Yêu cầu chia thừa kế QSD đất và căn nhà trên đất không được chấp nhận nên các nguyên đơn mỗi người phải chịu án phí giá ngạch 5% đối với phần yêu cầu chia di sản không được chấp nhận, cụ thể 168.860.500 đồng x 5% = 8.443.025 đồng.

Tổng số tiền án phí mỗi nguyên đơn phải chịu là 8.743.025 đồng.

Cụ thể ông Đinh Minh Đ phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng ông thuộc diện người cao tuổi có đơn xin miễn tiền án phí nên Hội đồng xét xử thống nhất miễn tiền án phí cho ông Đ. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí ông Đ đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0000242, 0000241 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

Ông Đinh Minh Đ1 phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Đ1 đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0006102, 0006101 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Ông Đ1 còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Ông Đinh Minh N3 phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông N3 đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0000248, 0000247 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Ông N3 còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Đinh Kim T phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0006108, 0006107 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Bà T còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Đinh Thị H phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0006110, 0006109 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Bà H còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Đinh Thị N phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0006105, 0006106 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Bà N còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Đinh Thị Ú phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Ú đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0006112, 0006111 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Bà Ú còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Đinh Thị Út E phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Út E đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0006104, 0006103 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Bà Út E còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Đinh Thị Út N2 phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Út N2 đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0000250, 0000249 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Bà Út N2 còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Do yêu cầu phản tố của bà H1 ông L1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí 5% của số tiền yêu cầu chi phí theo hầu vụ kiện là 10.000.000 đồng là 500.000 đồng.

Yêu cầu của Ngân hàng N4 được chấp nhận nên ông L1H1 phải chịu án phí tương ứng với số tiền bị buộc trả là 701.422.698 đồng là:{20.000.000 đồng + (301.422.698 x 4% =12.056.907 đồng)} =32.056.907 đồng

Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí ông L1, bà H1 đã nộp là 700.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002938 ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Ông L1, bà H1 còn phải nộp thêm 31.356.907 đồng.

Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng N4 chi nhánh huyện V, Kiên Giang II là 14.626.224 đồng theo biên lai thu tiền số 0002778 ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

[6.2] Án phí dân sự phúc thẩm:

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn ông Đinh Minh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên ông Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Minh Đ.

- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

Căn cứ: khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91, Điều 157; Điều 165, Điều 147; Điều 228, Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 117, Điều 584, Điều 589, 590 Bộ Luật Dân sự, Điều 106, Điều 188, Điều 203 Luật đất đai 2013.

Căn cứ: Điều 91; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Khoản 01 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Điều 6, Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Đinh Minh Đ, ông Đinh Minh Đ1, ông Đinh Minh N3, bà Đinh Kim T, bà Đinh Thị H, bà Đinh Thị N, bà Đinh Thị Ú, bà Đinh Thị Út E và bà Đinh Thị Út N2 về việc yêu cầu huỷ giấy chứng nhận QSD đất số phát hành CK 555268, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CCN: CH 01709 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 02/5/2018, diện tích 91,6m², tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, thuộc thửa 01, tờ bản đồ số 106-2017 do ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Đinh Minh Đ, ông Đinh Minh Đ1, ông Đinh Minh N3, bà Đinh Kim T, bà Đinh Thị H, bà Đinh Thị N, bà Đinh Thị Ú, bà Đinh Thị Út E và bà Đinh Thị Út N2 về việc chia thừa kế phần nhà và đất tranh chấp theo tờ trích đo địa chính số theo tờ trích đo địa chính số chính số 229-2021 của Chi nhánh Văn Phòng đăng ký đất đai huyện V ban hành gồm các cạnh 1, 5, 6, 4 có diện tích 96,3 m²; thuộc thửa đất số 01 tờ bản đồ số 106-2017 do ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất. Đất tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị H1, ông Đinh Minh L1 về việc yêu cầu ông Đinh Minh Đ, ông Đinh Minh Đ1, ông Đinh Minh N3, bà Đinh Kim T, bà Đinh Thị H, bà Đinh Thị N, bà Đinh Thị Ú, bà Đinh Thị Út E và bà Đinh Thị Út N2 liên đới bồi thường số tiền 28.000.000 đồng (Theo bảng kê chi tiết gửi tòa án gồm các khoản gồm chi phí hỗ trợ đi lại, hướng dẫn pháp luật, làm đại diện tham gia vụ án 15 triệu; công ăn, việc làm bị mất của 02 người trong 15 ngày bằng 200 nghìn đồng x 15 ngày x 02 người = 06 triệu đồng; tìm chứng cứ nộp cho Tòa án là 03 triệu đồng; bù đắp sức khỏe, tinh thần suy giảm là 02 triệu đồng; chi phí khác cho việc hầu kiện là 02 triệu đồng).
  4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng N4, chi nhánh V3. Buộc ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 phải trả cho ngân hàng số tiền 701.442.986 đồng, trong đó vốn gốc là 539.000.000 đồng, lãi suất còn thiếu là 160.610.519 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 19/12/2023 ông L1, bà H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông L1, bà H1 không thanh toán số tiền như thỏa thuận, Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án kê biên phát mại tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 7703-LCL-202003669 ngày 22/9/2020 gồm: Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận QSD đất số CK 555268, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CCN:CH 01709 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 02/5/2018 cụ thể diện tích 91,6m², tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, thuộc thửa 01, tờ bản đồ số 106-2017 do ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.

Kể từ ngày ông L1, bà H1 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng N4 có trách nhiệm hoàn trả cho ông L1, bà Hoàng Q1 sử dụng đất theo giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CK 555268, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CCN: CH 01709 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 02/5/2018 cụ thể diện tích 91,6m², tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, thuộc thửa 01, tờ bản đồ số 106-2017 do ông Đinh Minh L1 và bà Lê Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.

5. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ông Đinh Minh Đ, ông Đinh Minh Đ1, ông Đinh Minh N3, bà Đinh Kim T, bà Đinh Thị H, bà Đinh Thị N, bà Đinh Thị Ú, bà Đinh Thị Út E và bà Đinh Thị Út N2 mỗi người phải chịu 104.444 đồng, ông Đinh Minh Đ đã nộp xong số tiền 940.000 đồng theo hóa đơn giá trị gia tăng ngày 16/11/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện V. Ông Đinh Minh Đ1, ông Đinh Minh N3, bà Đinh Kim T, bà Đinh Thị H, bà Đinh Thị N, bà Đinh Thị Ú, bà Đinh Thị Út E và bà Đinh Thị Út N2 mỗi người phải hoàn trả lại cho ông Đinh Minh Đ số tiền 104.444 đồng.

Chi phí định giá là 10.543.000 đồng, cụ thể ông Đinh Minh Đ, ông Đinh Minh Đ1, ông Đinh Minh N3, bà Đinh Kim T, bà Đinh Thị H, bà Đinh Thị N, bà Đinh Thị Ú, bà Đinh Thị Út E và bà Đinh Thị Út N2 mỗi người phải chịu 1.171.444 đồng và ông Đ đã nộp xong số tiền 10.543.000 đồng theo hóa đơn giá trị gia tăng số 00000008, ngày 01 tháng 3 năm 2023 Của Công ty cổ phần thẩm định giá và tư vấn đầu tư Miền T. Ông Đinh Minh Đ1, ông Đinh Minh N3, bà Đinh Kim T, bà Đinh Thị H, bà Đinh Thị N, bà Đinh Thị Ú, bà Đinh Thị Út E và bà Đinh Thị Út N2 phải hoàn trả lại cho ông Đinh Minh Đ mỗi người số tiền 1.171.444 đồng.

6. Về án phí dân sự:

6.1 Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Đinh Minh Đ phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng ông thuộc diện người cao tuổi có đơn xin miễn tiền án phí nên Hội đồng xét xử thống nhất miễn tiền án phí cho ông Đ. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí ông Đ đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0000242, 0000241 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

Ông Đinh Minh Đ1 phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Đ1 đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0006102, 0006101 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Ông Đ1 còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Ông Đinh Minh N3 phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông N3 đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0000248, 0000247 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Ông N3 còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Đinh Kim T phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0006108, 0006107 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Bà T còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Đinh Thị H phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0006110, 0006109 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Bà H còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Đinh Thị N phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0006105, 0006106 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Bà N còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Đinh Thị Ú phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Ú đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0006112, 0006111 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Bà Ú còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Đinh Thị Út E phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Út E đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0006104, 0006103 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Bà Út E còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Đinh Thị Út N2 phải chịu 8.443.025 đồng tiền án phí khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Út N2 đã nộp là 1.050.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0000250, 0000249 cùng ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Bà Út N2 còn phải nộp thêm 7.393.025 đồng.

Do yêu cầu phản tố của bà H1 ông L1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí 5% của số tiền yêu cầu chi phí theo hầu vụ kiện là 10.000.000 đồng là 500.000 đồng.

Yêu cầu của Ngân hàng N4 được chấp nhận nên ông L1H1 phải chịu án phí tương ứng với số tiền bị buộc trả là 701.422.698 đồng là:{20.000.000 đồng + (301.422.698 x 4% =12.056.907 đồng)} =32.056.907 đồng

Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí ông L1, bà H1 đã nộp là 700.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002938 ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Ông L1, bà H1 còn phải nộp thêm 31.356.907 đồng.

Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng N4 chi nhánh huyện V, Kiên Giang II là 14.626.224 đồng theo biên lai thu tiền số 0002778 ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

6.2 Án phí dân sự phúc thẩm:

Nguyên đơn ông Đinh Minh Đ là người cao tuổi nên không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Vĩnh Thuận;
  • - THA dân sự huyện Vĩnh Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Bá Kha

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2024/DS-PT ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp chia thừa kế qsd đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận qsd đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 167/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế QSD đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Minh Đ- Đinh Minh L1- T/c chia thừa kế QSD đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger