TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1662/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/6/2025
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Hoàng Chinh
- Bà Nguyễn Thị Lượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Lê Na – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 314/2025/TLST-HNGĐ ngày 19/02/2025, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4526/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5447/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05/6/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Phạm Văn H, sinh năm 1987 (Có mặt)
- Địa chỉ thường trú: Số nhà I T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phạm Văn H: Ông Nguyễn Thành T, luật sư thuộc Công ty L, Đoàn luật sư thành phố H
- - Bị đơn: Bà Tô Thị Long H1, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
- Địa chỉ thường trú: Số A L, khu phố Í, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại toà án, nguyên đơn ông Phạm Văn H trình bày:
Ông H và bà Tô Thị Long H1 tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là: thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 22/3/2013.
Cuộc sống vợ chồng sau kết hôn không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, to tiếng với nhau. Nguyên nhân xuất phát từ việc vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống. Hai bên đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện nhưng vẫn không thể hàn gắn được. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H1.
+ Về con chung: Ông H và bà H1 có 02 người con chung chưa thành niên tên Phạm Hải Đ, sinh ngày 20/9/2014 và Phạm Hải A, sinh ngày 24/3/2018.
Ông H đồng ý giao 02 người con chung cho bà H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông H đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi người con 3,000,000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
* Bị đơn bà Tô Thị Long H1 được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại tòa án nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy lời khai của đương sự được.
* Tại phiên tòa:
- Ông Phạm Văn H trình bày vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với bà H1 vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai người đã không còn sống chung với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Các con đang sống chung với bà H1. Ông H đồng ý giao hai con cho bà H1 được tiếp tục nuôi dưỡng. Ông H đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi người con 5,000,000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phạm Văn H trình bày ý kiến tranh luận:
Nhận thấy mâu thuẫn gia đình của ông H và bà H1 đã ở mức trầm trọng. Vợ chồng đã không còn sống chung 05 năm nay, không có sự yêu thương và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống. Điều đó cho thấy mục đích hôn nhân của các bên không đạt được. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc được ly hôn với bị đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc được ly hôn bà Tô Thị Long H1; giao 02 con chung chưa thành niên tên Phạm Hải Đ, sinh ngày 20/9/2014 và Phạm Hải A, sinh ngày 24/3/2018 cho bà H1 được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi người con 5,000,000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được công khai tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được xem xét tại phiên toà cùng lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[I] Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp trong vụ án là ly hôn. Bị đơn bà Tô Thị Long H1 có nơi cư trú tại địa chỉ: Số A L, khu phố I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Tô Thị Long H1 được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[II] Về nội dung:
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn H và bà Tô Thị Long H1 tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là: thành phố T) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 19, quyển số 01/2013 ngày 22/3/2013. Do đó, căn cứ Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân giữa ông H, bà H1 là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc được ly hôn bà Tô Thị Long H1, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời khai của đương sự có thể khẳng định mâu thuẫn gia đình của ông H, bà H1 đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Giữa ông H và bà H1 không tồn tại tình cảm vợ chồng, không có sự yêu thương, sự quan tâm và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống do hai người đã không còn sống chung với nhau. Vì vậy, để ổn định cuộc sống cho các bên đương sự, căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của đại diện viện kiểm sát, chấp nhận cho ông H được ly hôn bà H1.
2. Về con chung: Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cùng lời khai của đương sự thể hiện ông H và bà H1 có 02 người con chung chưa thành niên tên Phạm Hải Đ, sinh ngày 20/9/2014 và Phạm Hải A, sinh ngày 24/3/2018. Hiện 02 con đang sống với bà H1. Ông H và bà H1 không tranh chấp về nuôi con. Ông H đồng ý giao 02 con cho bà H1 được tiếp tục nuôi dưỡng. Tại bản tự khai, 02 trẻ đều trình bày nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất việc giao 02 con chung cho bà H1 trực tiếp nuôi dưỡng.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Bà H1 không có ý kiến cũng như không có yêu cầu gì đối với nội dung khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ vào nhu cầu thực tế của trẻ và điều kiện kinh tế hiện nay của đương sự, việc ông H cấp dưỡng nuôi mỗi người con 5,000,000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi là hoàn toàn phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
4. Về tài sản chung, nợ chung: ông H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề tài sản chung, nợ chung.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn H phải chịu án phí ly hôn, án phí cấp dưỡng nuôi con.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn H về việc được ly hôn bà Tô Thị Long H1.
- - Về con chung: Giao 02 con chung chưa thành niên tên Phạm Hải Đ, sinh ngày 20/9/2014 và Phạm Hải A, sinh ngày 24/3/2018 cho bà Tô Thị Long H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi người con 5,000,000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày bà Tô Thị Long H1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Phạm Văn H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì hàng tháng ông Phạm Văn H còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Phạm Văn H xác định không có nên Hội đồng xét xử không giải quyết quan hệ về tài sản chung, nợ chung.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Văn H phải chịu án phí ly hôn 300,000 đồng, án phí cấp dưỡng nuôi con 300,000 đồng. Tổng án phí ông Phạm Văn H phải nộp là 600,000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300,000 đồng ông H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0081757 ngày 19/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, ông H phải nộp thêm số tiền 300,000 đồng.
3. Về quyền kháng cáo:
Ông Phạm Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bà Tô Thị Long H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh |
Bản án số 1662/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1662/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn Hạt về việc được ly hôn bà Tô Thị Long H1 - Về con chung: Giao 02 con chung chưa thành niên tên Phạm Hải Đ, sinh ngày 20/9/2014 và Phạm Hải A, sinh ngày 24/3/2018 cho bà Tô Thị Long H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. - Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi người con 5,000,000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Kể từ ngày bà Tô Thị Long H1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Phạm Văn H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì hàng tháng ông Phạm Văn H còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng. - Về tài sản chung, nợ chung: Ông Phạm Văn H xác định không có nên Hội đồng xét xử không giải quyết quan hệ về tài sản chung, nợ chung.
