|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1660/2024/DS-ST Ngày: 21/8/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Bùi Thị Hòa Bình
- 2/ Bà Lâm Thị Hoàng Oanh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Mỹ Linh – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 779/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 396/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 337/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S; địa chỉ: Số B đường N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Minh T (Văn bản ủy quyền ngày 19/01/2024)
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Tuyết M; địa chỉ: Số D đường B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo đơn khởi kiện ngày 21/3/2024, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 09/10/2020, bà Đỗ Thị Tuyết M đã ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng cho bà M. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà M đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 120.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà M đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 120.000.000 đồng theo thứ tự thanh toán quy định tại Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần gửi thư nhắc nhở nhưng bà M vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Ngày 06/7/2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Tính đến ngày 21/8/2024, bà M còn nợ Ngân hàng như sau: nợ gốc là 34.168.380 đồng, tiền lãi quá hạn là 46.865.286 đồng, tổng số nợ là 81.033.666 đồng. Ngân hàng yêu cầu bà M phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ nêu trên và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 22/8/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn là bà Đỗ Thị Tuyết M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà M không đến Tòa án giải quyết vụ án và không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Toà án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70, Điều 72, của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Bị đơn không thanh toán nợ đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc, lãi cho nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng được thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Về sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự đến tham gia phiên tòa xét xử vụ án vào ngày 23/7/2024 và ngày 21/8/2024. Bị đơn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
-
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc, lãi theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/10/2020 tính đến ngày 21/8/2024 là 34.168.380 đồng, tiền lãi quá hạn là 46.865.286 đồng, tổng số nợ là 81.033.666 đồng và yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi từ ngày 22/8/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất tại hợp đồng tín dụng.
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 09/10/2020 của bị đơn thể hiện nguyên đơn và bị đơn đã giao kết hợp đồng tín dụng. Các bên tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự, tự nguyện ký kết hợp đồng, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Căn cứ Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn có hiệu lực pháp luật.
Theo các sao kê tài khoản thẻ tín dụng thì bị đơn đã sử dụng thẻ tín dụng để giao dịch và tính đến ngày 21/8/2024, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 34.168.380 đồng, tiền lãi quá hạn là 46.865.286 đồng, tổng số nợ là 81.033.666 đồng. Bị đơn không thanh toán nợ cho nguyên đơn đúng hạn theo Điều 18, Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng năm 2010 là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Căn cứ khoản 1 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
- Đối với phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng, phân tích đúng nội dung của vụ án. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật.
- Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là 81.033.666 đồng. Nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại cổ phần S:
- Buộc bà Đỗ Thị Tuyết M phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ tính đến ngày 21/8/2024 theo giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 09/10/2020 nợ gốc là 81.033.666 đồng.
- Bà M phải tiếp tục trả tiền lãi cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng kể từ ngày 22/8/2024 cho đến khi trả hết nợ.
-
Án phí dân sự sơ thẩm:
- 2.1 Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 1.787.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0023515 ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh;
- 2.2 Bà Đỗ Thị Tuyết M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.051.683 đồng (bốn triệu không trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm tám mươi ba đồng).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Yến |
Bản án số 1660/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1660/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
