Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 166/2024/HS-PT

Ngày: 31/8/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trọng Danh

Các Thẩm phán: Ông Phan Vĩnh Chuyển

Ông Trần Minh Long

Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Lĩnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:

Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 139/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Quốc C, do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Bị cáo:

NGUYỄN QUỐC C, sinh ngày xx/xx/19xx tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Xóm G, thôn D, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Thợ máy; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn T và bà Nguyễn Thị Đ; Có vợ là Ngô Thị Xuân N và 02 con (con lớn sinh năm 20xx, con nhỏ sinh năm 20xx). Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Tổ I, thôn M, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; (đã chết)

* Người đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn kháng cáo gồm:

  1. Lê Thị H, sinh năm 19xx; Địa chỉ: Phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
  2. Ông Lê Nho T2, sinh năm 19xx; Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Nho Đ1, bà Lê Thị H, ông Lê Nho H1, ông Lê Nho T3, ông Lê Nho T2: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: A N, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Nho T2: Luật sư Nguyễn Anh T4 – Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 26/10/2023, Nguyễn Quốc C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72K3-9951 đi trên đường C theo hướng từ cầu Hòa Xuân rẽ trái lên cầu N thuộc phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình Chánh điều khiển xe đi lên cầu, tại phần đường bên phải theo hướng từ Cách Mạng Tháng T5 về Võ Chí C2 và lưu thông ở làn đường ngoài cùng bên phải (làn dành cho xe mô tô và xe thô sơ), thì bị ánh sáng mặt trời chiếu vào mắt gây hạn chế tầm nhìn. Tuy nhiên, C vẫn cho xe hướng về trước và giữ nguyên tốc độ nên khi đi đến đoạn trước trụ đèn chiếu sáng số CS13B-VCC nằm trên dải phân cách cứng, Chánh đã không nhìn thấy xe đạp của bà Nguyễn Thị T1 đang điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều với xe của mình. Do đó, khi C3 cho xe hướng về trước thì phần bánh trước xe mô tô đã va quệt vào phần thân bên trái xe đạp gây ra tai nạn. Sau va chạm, cả hai xe đều ngã trượt chếch về bên phải, Chánh và bà T1 đều bị thương tích nặng. Đến ngày 27/10/2023 thì bà T1 tử vong tại bệnh viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1055/KLGĐTT-KTHS ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Phòng K, Công an thành phố Đ kết luận: Nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị T1 là do đa chấn thương.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông trên cầu N, phường K, quận C, TP Đà Nẵng. Cầu Nguyễn Tri P có mặt đường được thảm nhựa bằng phẳng rộng 22,5m, ở giữa có dải phân cách cứng cố định rộng 1,5m, chia mặt đường thành hai chiều xe chạy đi và về, mỗi chiều rộng 10,5m. Vị trí nơi xảy ra tai nạn nằm bên phải theo hướng đường C đi cầu Khu Ê, mỗi làn rộng lần lượt là 4m00 sát dải phân cách cứng cố định, làn đường ở giữa là 3m50 và làn trong cùng là 3m00, tầm nhìn không bị che khuất.

Chọn điểm mốc và mép chuẩn: Chọn trụ điện chiếu sáng CS13B-VCC nằm trên dải phân cách cứng là điểm mốc, chọn mép đường bên phải cầu N theo hướng đi từ đường C về cầu K là mép chuẩn. Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.

Dấu vết 1: Điểm đầu vết cày xước trên mặt đường nhựa dài không liên tục đến gác chân bên trái xe mô tô (2) là 4m50, điểm đầu vết cây xước được đo vào mép chuẩn là 1m10, điểm cuối vết cày xước nằm ngay gác chân người điều khiển bên trái.

Dấu vết 2: Xe mô tô mang BKS: 72K3-9951 ngã về bên trái nằm trên mặt đường nhựa, đầu xe hướng về cầu K, tâm trục bánh lốp sau được đo vào mép đường chuẩn bên phải là 0m20, tâm trục bánh lốp trước được đo vào mép đường chuẩn là 0m70 và được do đến tâm trục bánh lốp (4) xe đạp phía trước là 1m30.

Dấu vết 3: Vết máu để lại trên mặt đường nhựa diện 1m70 x 0m90, tâm vết máu được đo đến tâm trục bánh lốp sau xe mô tô (2) là 1m40 và được đo đến mép đường chuẩn là 2m30.

Dấu vết 4: Xe đạp 2 bánh ngã sang bên trái nằm trên mặt đường nhựa, đầu xe đạp hướng về Cách Mạng Tháng T5, tâm trục bánh lốp trước được đo vào mép đường chuẩn bên phải là 0m80, tâm trục bánh lốp sau xe đạp đo vào mép đường chuẩn là 0m60 và được đo đến điểm mốc là 17m00.

Tại kết luận giám định cơ học số 1020/KL-KTHS ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Phòng K, Công an thành phố Đ xác định:

Trên xe mô tô mang BKS: 72K3-9951 có các dấu vết sau: Vết 1: Vết trượt xước kim loại, mất gì rét màu nâu, bám dính chất màu trắng tại mặt trước và đầu trục ngang bên phải bánh trước, vị trí thấp nhất cách mặt đất 23cm, kích thước (8x4)cm. Vết có chiều hướng từ trước về sau.

Trên xe đạp hai bánh, sơn màu trắng có các dấu vết sau: Vết 1: Vết nứt, gãy, mất khuyết nhựa màu trắng, bám dính chất màu nâu tại chân bàn đạp bên trái, kích thước (9x2,5)cm. Vết có chiều hướng từ ngoài vào trục bàn đạp. Cong lệch cần và trục chân bàn đạp chiều hướng từ phải qua trái, từ sau ra trước.

Cơ chế hình thành dấu vết: Vết 1 trên xe mô tô biển kiểm soát 72K3- 9951 hình thành phù hợp do 2 mặt trước và đầu trục ngang bên phải bánh trước của xe mô tô này va chạm với chân bàn đạp bên trái của xe đạp tạo nên vết 1 tương ứng trên xe đạp.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc C 09 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 10/6/2024, bị cáo Nguyễn Quốc C có đơn kháng cáo với nội dung: Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là quá nghiêm khắc, bản thân bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính nuôi mẹ già đang bị tai biến nằm một chỗ, vợ không có việc làm ổn định và 02 con còn nhỏ đang tuổi tuổi đi học. Xin cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Ngày 12/6/2024, bà Lê Thị H đại diện theo pháp luật của bị hại bà Nguyễn Thị T1 có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét buộc bị cáo Nguyễn Quốc C phải tiếp tục bồi thường 100.000.000 đồng và tăng hình phạt đối với bị cáo đến mức cao nhất của khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Ngày 13/6/2024, ông Nguyễn Văn G người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bà Nguyễn Thị T1 có đơn kháng cáo với nội dung: Gia đình bị hại đề nghị không nhận lại vật chứng là chiếc xe đạp của bị hại Nguyễn Thị T1; Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là chưa tương xứng, đề nghị xem xét áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và không đồng ý việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Gia đình bị hại có đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo C”.

Ngày 17/6/2024, ông Lê Nho T2 đại diện theo pháp luật của bị hại bà Nguyễn Thị T1 có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Gia đình bị hại có đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo C”; đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo C và buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 100.000.000 đồng thiệt hại về tinh thần.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Quốc C thừa nhận về hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu và kết luận; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện cho bị hại ông Lê Nho T2 rút nội dung kháng cáo buộc bị cáo Nguyễn Quốc C tiếp tục bồi thường số tiền 100.000.000 đồng thiệt hại về tinh thần; giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Gia đình bị hại có đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo C” và tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Quốc C.

Luật sư Nguyễn Anh T4 người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đại diện bị hại Lê Nho T2 có quan điểm như sau: Bị cáo Nguyễn Quốc C có thị lực hoàn toàn bình thường, việc bị cáo cho rằng bị ánh sáng mặt trời chiếu vào nên không nhìn thấy bị hại là không có cơ sở; quá trình điều tra, lời khai của bị cáo về lý do không quan sát thấy bị hại còn mâu thuẫn; tốc độ của bị cáo khi lưu thông là cao do vị trí xảy ra tai nạn đến vị trí dừng xe cách nhau đến 4,5m, vết thương trên cơ thể bị hại rất nhiều và nghiêm trọng. Do đó, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại, tăng hình phạt đối với bị cáo C. Đối với kháng cáo đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Gia đình bị hại có đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo C”, tại phiên tòa, bị cáo C đã thừa nhận nội dung đơn do anh của bị cáo soạn sẵn và đưa ông G ký vào, ông G khi ký cũng không thông qua ý kiến của các đại diện của bà T1 nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo và đại diện bị hại có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và trong thời hạn luật định nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung kháng cáo: Xét Bản án sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử bị cáo Nguyễn Quốc C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, đồng thời đã xem xét đầy đủ một cách khách quan toàn diện cũng như diễn biến vụ việc tai nạn xảy ra; điều kiện hoàn cảnh gia đình và nhân thân của bị cáo, trên cơ sở đó xử phạt bị cáo mức hình phạt 09 tháng tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo bổ sung tài liệu thể hiện bị cáo có cha có nhiều thành tích trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, gia đình văn hóa và xin Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Tuy nhiên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo C. Đối với kháng cáo của đại diện bị hại đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, tai nạn giao thông là lỗi vô ý, bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, mức hình phạt đã tuyên là phù hợp, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo này của đại diện bị hại.

Đối với kháng cáo của đại diện bị hại đề nghị buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 100.000.000 đồng tổn thất về tinh thần, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị hại đã rút yêu cầu này nên không xem xét. Đối với kháng cáo đề nghị không nhận lại vật chứng là chiếc xe đạp của bị hại Nguyễn Thị T1, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại vật chứng này cho ông Nguyễn Văn G theo Biên bản lập ngày 12/3/2024 nên không xem xét.

Do đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc C và các đại diện hợp pháp của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Khoảng 10 giờ 55 phút ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại đoạn đường trên cầu N, thuộc phần đường bên phải theo hướng từ đường C về đường V, ngay trước trụ đèn chiếu sáng số CS13B-VCC, thuộc phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Quốc C đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72K3-9951 nhưng không chú ý quan sát nên đầu trục ngang bên phải bánh trước của xe mô tô đã va quệt vào bàn đạp bên trái của xe đạp do bà Nguyễn Thị T1 điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước. Sau va chạm, Chánh và bà T1 đều bị thương tích nặng, đến ngày 27/10/2023 thì bà T1 tử vong tại bệnh viện.

Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Nguyễn Quốc C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Làm chết người” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo và đại diện bị hại, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính về an toàn giao thông đường bộ. Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá đúng tính chất vụ án, đã xem xét đầy đủ một cách khách quan toàn diện cũng như diễn biến vụ việc tai nạn xảy ra. Bị cáo Nguyễn Quốc C có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân là lao động chính, các con còn đang đi học, hiện đang chăm sóc cho mẹ già yếu bị tai biến nên việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, xét hậu quả của vụ án là nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng của người khác, làm cho bị hại bà Nguyễn Thị T1 tử vong. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp, không nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo bổ sung tài liệu thể hiện cha đẻ của bị cáo có công trong kháng chiến chống Mỹ, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; gia đình của bị cáo là gia đình văn hóa; bản thân của bị cáo đang bị một số bệnh tật, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng, nên không ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo tăng mức hình phạt của đại diện hợp pháp của bị hại và kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Quốc C như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[2.2] Đối với kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Gia đình bị hại có đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo C”, Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, những người đại diện theo pháp luật của bị hại đã cùng thống nhất ủy quyền cho ông Nguyễn Văn G để ông G đại diện tham gia tố tụng; bản thân ông G cũng có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật theo quy định, không có cơ sở chứng mình việc ông G ký vào đơn xin bãi nại là do bị lừa dối; do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

[2.3] Đối với kháng cáo của đại diện bị hại ông Nguyễn Văn G đề nghị không nhận lại vật chứng là chiếc xe đạp của bà Nguyễn Thị T1, Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho đại diện bị hại ông Nguyễn Văn G đối với vật chứng là xe đạp của bà Nguyễn Thị T1 theo Biên bản lập ngày 12/3/2024. Ông G đã được nhận lại tài sản và không có ý kiến gì. Do đó, đến nay việc ông G kháng cáo đề nghị không nhận lại tài sản trên, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

[2.4] Đối với kháng cáo của đại diện bị hại đề nghị buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 100.000.000 đồng tổn thất về tinh thần, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị hại đã rút yêu cầu này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bị cáo Nguyễn Quốc C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc C và đại diện hợp pháp của bị hại (bà Nguyễn Thị T1) gồm bà Lê Thị H, ông Lê Nho T2 và người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn G. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng về trách nhiệm dân sự.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc C: 09 (Chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1;
  • - Phòng HSNV – CATP Đà Nẵng;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - Cơ quan CSĐT CAQ Cẩm Lệ;
  • - TAND quận Cẩm Lệ;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS; HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đã ký và đóng dấu

Bùi Trọng Danh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2024/HS-PT ngày 31/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 166/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ 55 phút ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại đoạn đường trên cầu N, thuộc phần đường bên phải theo hướng từ đường C về đường V, ngay trước trụ đèn chiếu sáng số CS13B-VCC, thuộc phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Quốc C đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72K3-9951 nhưng không chú ý quan sát nên đầu trục ngang bên phải bánh trước của xe mô tô đã va quệt vào bàn đạp bên trái của xe đạp do bà Nguyễn Thị T1 điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước. Sau va chạm, Chánh và bà T1 đều bị thương tích nặng, đến ngày 27/10/2023 thì bà T1 tử vong tại bệnh viện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger