|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 166/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29/11/2023 V/v “Tranh chấp xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Mỹ Hường, Ông Nguyễn Thanh Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Chí Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 536/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 514/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 500/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bạch Văn Hồng K, sinh năm 1991.
Địa chỉ: số A đường T, phường C, quận E, thành phố Hồ Chí Minh (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Dương Thị Trà M, sinh năm 1991.
Địa chỉ: tổ E, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Bạch Văn Hồng K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Ông K và bà M tự nguyện quen biết, tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 08/09/2014 tại Ủy ban nhân dân phường C, quận E, thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận. Hôn nhân lần thứ nhất của cả hai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và đã nhiều lần ông K tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông K yêu cầu được ly hôn với bà M.
Về quan hệ con chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng ông K và bà M có 01 (một) con chung tên Bạch Dương K1, sinh ngày 07/02/2015. Hiện nay cháu K1 do bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, ông K đồng ý tiếp tục giao con cho bà M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng, ông K không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án bà Dương Thị Trà M vắng mặt, không có ý kiến trình bày, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, ông Bạch Văn Hồng K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà Dương Thị Trà M vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến, tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang:
Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của đương sự tại phiên tòa, sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa. Đối với nguyên đơn ông K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Riêng bị đơn bà M vắng mặt không đến Tòa án giải quyết là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ bà và phải chịu hậu quả theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự có trong hồ sơ vụ án xét thấy:
Về hôn nhân và gia đình: Quá trình giải quyết Tòa án tiến hành hòa giải để hàn gắn quan hệ hôn nhân của ông K và bà M nhưng bà M vắng mặt, không có ý kiến trình bày, ông K cương quyết ly hôn. Xét mâu thuẫn giữa ông bà đi đến trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông K là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Ông Bạch Văn Hồng K và bà Dương Thị Trà M có một con chung tên Bạch Dương K1, sinh ngày 07/02/2015, hiện bà M đang chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông K đồng ý giao con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà M không yêu cầu ông K cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bạch Văn Hồng K với bà Dương Thị Trà M. Về con chung: Giao con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản và nợ chung không yêu cầu nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Bạch Văn Hồng K và bà Dương Thị Trà M có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn (bản sao) số 35/2014, ngày 08/09/2014, đăng ký kết hôn ngày 08/09/2014 do Ủy ban nhân dân phường C, quận E, thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận. Ông K khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà M; bà M cư trú tại phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa ông K và bà M là tranh chấp ly hôn và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa ông Bạch Văn Hồng K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Dương Thị Trà M vắng mặt, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà M không đến Tòa án và vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà M.
[3] Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án: Ông Bạch Văn Hồng K và bà Dương Thị Trà M kết hôn trên cơ sở tự nguyện của cả hai, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường C, quận E, thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn (bản sao) số 35/2014 ngày 08/09/2014, được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Nay, ông K và bà M phát sinh mâu thuẫn, ông K xin ly hôn nên Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Trong quan hệ hôn nhân và gia đình của ông K và bà M sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, không còn tình cảm, yêu thương, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn lời qua tiếng lại với nhau. Trong thời gian giải quyết ông K luôn tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả, nên ông yêu cầu được ly hôn với bà M.
[5] Xét, hôn nhân giữa ông K và bà M phát sinh nhiều mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, thực hiện các công việc trong gia đình, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Hiện nay, ông K không còn tình cảm với bà M, không yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ khó khăn trong cuộc sống và chăm lo hạnh phúc gia đình. Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, bà M vắng mặt, không trình ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông K tức là bà đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bà đã được pháp luật quy định nên không có căn cứ xét yêu cầu của bà M. Do đó, chấp nhận yêu cầu của ông K được ly hôn với bà M.
[6] Về quan hệ con chung: Ông Bạch Văn Hồng K và bà Dương Thị Trà M có hai con chung tên Bạch Dương K1, sinh ngày 07/02/2015. Hiện cháu K1 đang được bà M trực tiếp nuôi dưỡng tốt, có nơi ở ổn định, được học tập tại nơi cư trú. Ý chí nguyện vọng của cháu K1 mong muốn sống chung với bà M nên cần thiết giao cháu K1 cho bà M trực tiếp dưỡng là phù hợp. Do đó, bà M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Bạch Dương K1, sinh ngày 07/02/2015. Bà M không có ý kiến, yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[8] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc ông K nộp tiền án phí 300.000đ, trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí lệ phí tòa án số 0002320, ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang là phù hợp theo quy định pháp luật, ông K đã nộp đủ, bà M không nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 8, 9, 19, 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 179; 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bạch Văn Hồng K được ly hôn với bà Dương Thị Trà M.
Về quan hệ con chung: Ông Bạch Văn Hồng K và bà Dương Thị Trà M có một con chung tên Bạch Dương K1, sinh ngày 07/02/2015. Bà Dương Thị Trà M tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Bạch Dương K1, sinh ngày 07/02/2015. Ông K không cấp dưỡng nuôi các con chung do bà M không yêu cầu. Bà M phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông K trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung, việc nuôi con chung không cố định.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Bạch Văn H Khoa nộp số tiền 300.000đ, trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002320, ngày 04/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Ông Bạch Văn Hồng K và bà Dương Thị Trà M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của ông K, bà M.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Phương |
Bản án số 166/2023/HNGĐ-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 166/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
