Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 166/2024/HS-ST

Ngày 27 - 8 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Hiếu.
  • Thẩm phán: Ông Đỗ Tuấn Long.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bắc Hải, bà Bùi Thị Đào, bà Trịnh Lan Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 154/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Đình T; sinh ngày 15 tháng 9 năm 1974 tại huyện T, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1952; con bà: Cao Thị Đ, sinh năm 1950; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thùy D (đã ly hôn) và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • + Bản án số 49/2006/HSST ngày 18/5/2006 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 7 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” (Đã được xoá án tích).
  • + Bản án số 44/2012/HSST ngày 08/9/2012 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 9 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” (Đã được xoá án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2023, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đèo Văn H – Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh S. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1970; nơi đăng ký HKTT: Số C Chợ H, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số F N, tổ I phường C, quận H, thành phố Hải Phòng, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Anh Hoàng Trọng Đ1, sinh năm 1990, nơi cư trú: khu Đ, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Đình T có quen biết người phụ nữ tên Vũ Thị Lệ Q (Q giới thiệu với T tên là H2 ở Hà Nội). Khoảng 8 giờ ngày 05/5/2023, T gọi điện thoại cho Q hỏi xin việc làm, Q bảo T ra Hà Nội để Q sắp xếp công việc cho. Cùng ngày T đi xe khách từ tỉnh Đồng Nai ra Hà Nội gặp Q. Tại đây Q giới thiệu T làm quen với một người đàn ông tên H3 (chồng Q). Đến khoảng 3 giờ ngày 07/5/2023, T được Q rủ lên thành phố Đ, tỉnh Điện Biên cùng vợ chồng Q bằng xe taxi do Nguyễn Văn H1 lái. Khoảng 13h cùng ngày cả ba đến thành phố Đ và thuê khách sạn B để nghỉ (Q, H3 ở 1 phòng, T và lái xe ở một phòng Tấn không rõ khách sạn và địa chỉ). Đến khoảng 16 giờ Q gọi điện bảo T cùng đi ra ngoài, sau đó T thấy 01 người đàn ông đi xe máy đến đưa cho Q 01 túi đựng ma túy, Q đưa túi ma túy cho T (T biết là ma túy nhưng không hỏi số lượng và loại ma túy), bảo T đi Taxi về trước, khi nào về đến Hà Nội sẽ có người đến đón T, đồng thời đưa cho T 7 triệu đồng để trả tiền taxi, T đồng ý. Sau đó Q gọi điện thoại cho H1 (lái xe) đón T đi về trước, còn Q, H3 ở lại Điện Biên. Khi lên xe T để túi chứa ma túy ở túi để đồ sau ghế lái. Đến 23 giờ ngày 07/5/2023 khi T đang đi xe taxi của H1 đến khu vực bản P, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng: 02 bánh chất bột nén màu trắng (nghi là H4); ngoài ra còn tạm giữ của Lê Đình T 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax; 02 thẻ ngân hàng V mang tên Lê Đình T; 30.000.000 đồng cùng một số giấy tờ khác có liên quan.

Hồi 05 giờ 25 phút ngày 08/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện V thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu trưng cầu giám định, niêm phong lại vật chứng:

  • - 02 bánh chất bột nén màu trắng có tổng khối lượng 643,43 gam, trích bánh chất bột nén màu trắng thứ nhất 1,14 gam đánh ký hiệu T, trích bánh chất bột nén màu trắng thứ hai 0,85 gam đánh ký hiệu T2 làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy.

Kết luận giám định số: 966/KL-KTHS ngày 10/5/2023, của Phòng K, Công an tỉnh S kết luận:

  • - Mẫu ký hiệu T, T2 gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là T = 1,14 gam, T2 = 0,85 gam.
  • - Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 643,43 gam, loại Heroine.

Về nguồn gốc 643,43 gam Heroine thu giữ trong vụ án. Quá trình điều tra Lê Đình T khai nhận là người phụ nữ tên H2 ở Hà Nội thuê vận chuyển về Hà Nội. Quá trình điều tra, xác định người phụ nữ tên H2 ở Hà Nội tên thật là Vũ Thị Lệ Q, sinh năm 1970, trú tại: số D N, T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Cơ quan điều tra ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Thị Lệ Q. Tuy nhiên Vũ Thị Lệ Q đã bán nhà, chuyển đi nơi khác. Chính quyền địa phương không biết Q đã đi đâu. Cơ quan điều tra đã có Quyết định truy tìm Vũ Thị Lệ Q. Khi nào có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với người đàn ông tên H3, Lê Đình T khai nhận là chồng của Q. Quá trình xác minh, điều tra xác định H3 tên thật là Nguyễn Văn T2 sinh năm 1970, trú tại: số C Chợ H, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng. Cơ quan điều tra ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T2, quá trình lấy lời khai T2 thừa nhận ngày 07/5/2023 được cùng Vũ Thị Lệ Q và Lê Đình T lên Điện Biên chơi, nhưng không thừa nhận có liên quan đến việc mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy của Lê Đình T với Vũ Thị Lệ Q. Ngoài lời khai của T không có căn cứ khác để chứng minh Nguyễn Văn T2 liên quan đến vụ án. Do đó Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả tự do cho T2 là có căn cứ đúng quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn H1 (lái xe taxi) trú tại: khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình điều tra xác định là Nguyễn Văn H1 không biết, không liên quan đến vụ án. Do vậy Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả tự do cho H1 là có căn cứ đúng quy định pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 86/CT-VKS-P1 ngày 21/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Lê Đình T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Đình T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
  • + Xử phạt bị cáo Lê Đình T tù chung thân về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ 641,44 gam ma tuý còn lại sau giám định; 03 que test thử ma tuý.

Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11Promax vỏ màu xanh.

Trả lại cho bị cáo Lê Đình T 30.000.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11Promax vỏ màu xám; 01 giấy phép lái xe; 01 chiếc túi thu giữ của Lê Đình T; 02 V mang tên Lê Đình T.

- Án phí: Bị cáo Lê Đình T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa:

  • - Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo như đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đề nghị.
  • - Bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa, bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Luật sư, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được triệu tập tới phiên toà sơ thẩm, xét thấy ông Nguyễn Văn T2, anh Nguyễn Văn H1, anh Hoàng Trọng Đ1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Toà án vẫn tiến hành xét xử sơ thẩm theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội:

[2.1] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra đều nhận tội, phù hợp lẫn nhau, đúng như Cáo trạng truy tố các bị cáo, đều thể hiện: Ngày 07/5/2023 Lê Đình T vận chuyển 02 bánh Heroine có khối lượng 643,43 gam cho Vũ Thị Lệ Q từ Điện Biên về Hà Nội với mục đích Q hứa hẹn sẽ thu xếp việc làm cho T.

[2.2] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 00 phút, ngày 07/5/2023, tại bản P, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La đối với bị cáo Lê Đình T cùng vật chứng thu giữ gồm 02 bánh bột nén màu trắng có khối lượng 643,43 gam, kết luận giám định là ma tuý loại Heroine; cùng lời khai của người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án.

[2.3] Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Đình T đã có hành vi vận chuyển trái phép 643,43 gam ma tuý, loại Heroine nhằm mục đích vụ lợi đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Khi thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Lê Đình T đã thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy với khối lượng 643,43 gam Heroine đã vi phạm tình tiết định khung “Heroine, C, Methamphetamine,... có khối lượng từ 100 gam trở lên”, quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 02 lần bị kết án về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhưng đều đã được xoá án tích, bị cáo không có tiền án, tiền sự nên không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà xác định bị cáo có nhân thân xấu.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

[5] Đánh giá về tính chất, mức độ phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, ma tuý là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, để đảm bảo tính trừng trị, răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Sơn La.

[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo còn phảibị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng

[7.1] Đối với 641,44 gam Heroine còn lại sau giám định, đây là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành, vỏ gói ban đầu, phong bì niêm phong ban đầu, 02 que test thử ma tuý, 01 chiếc túi màu nâu là các đồ vật không có giá trị sử dụng (đã được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật), cần tịch thu tiêu hủy.

[7.2] Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 11 promax, vỏ màu xám, kèm 01 sim điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Lê Đình T qua điều tra xác định là tài sản bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, do đó tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[7.3] Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 11 promax, vỏ màu xanh rêu, kèm 01 sim điện thoại đã qua sử dụng, 01 giấy phép lái xe số AS925072, 01 căn cước công dân số 07507400636, 02 thẻ ngân hàng V thu giữ của Lê Đình T, qua điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo Lê Đình T.

[7.4] Đối với 01 chiếc xe ô tô con, nhãn hiệu HUYNDAI, loại Accent 14MT, BKS 19A-326.72, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe oto, 01 giấy biên nhận thế chấp thu giữ khi bắt quả tang Lê Đình T và Nguyễn Văn H1, qua điều tra xác định là xe ô tô và giấy tờ kèm theo của Hoàng Trọng Đ1 (sinh năm 1990, trú tại khu Đ, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ) cho Nguyễn Văn H1 thuê hợp đồng chạy taxi. Việc Lê Đình T thuê taxi để vận chuyển ma tuý Nguyễn Văn H1, Hoàng Trọng Đ1 không biết, không liên quan. Ngày 22/5/2023 Hoàng Trọng Đ1 có đơn xin lại xe ô tô cùng giấy tờ nêu trên. Ngày 10/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 06/CSMT bằng hình thức trả lại cho Hoàng Trọng Đ1, cần chấp nhận.

[7.5] Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy Note 10 Lite, 01 giấy phép lái xe hàng C số [...]; thu giữ của Nguyễn Văn H1, qua điều tra xác định là các giấy tờ, đồ vật của Nguyễn Văn H1 mang theo đi đường, không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 10/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 06/CSMT bằng hình thức trả lại cho Nguyễn Văn H1, cần chấp nhận.

[7.6] Đối với số tiền 7.900.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn H1, qua điều tra xác định là tiền Lê Đình T trả tiền thuê taxi cho Nguyễn Văn H1, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Ngày 10/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 06/CSMT bằng hình thức trả lại cho Nguyễn Văn H1, cần chấp nhận.

[7.7] Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen; 04 thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Văn T2, 02 Căn cước Công dân mang tên Nguyễn Văn T2, 01 sim điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn T2, qua điều tra xác định là giấy tờ, đồ vật T2 mang theo người, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T. Ngày 15/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 12/QĐ-CSMT bằng hình thức trả lại cho Nguyễn Văn T2, cần chấp nhận.

[7.8] Đối với 30.000.000 đồng thu giữ của Lê Đình T, qua điều tra xác định là tiền bị cáo vay của người thân trong gia đình, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo Lê Đình T.

[7.9] Ngày 09/5/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V ra lệnh phong tỏa tài khoản số 123/LPT-ĐTTH đối với tài khoản ngân hàng TMCP V1 số 0768282839 mang tên Lê Đình T, kết quả điều tra xác minh số dư trong tài khoản tính đến ngày 09/5/2023 là còn 83.994 đồng. Quá trình điều tra xác định Lê Đình T không sử dụng tài khoản trên để thực hiện hành vi phạm tội, do đó huỷ bỏ lệnh phong toả tài khoản số 123/LPT-ĐTTH của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V.

[8] Về các đối tượng và vấn đề khác liên quan đến vụ án

[8.1] Về nguồn gốc 643,43 gam Heroine bị thu giữ, quá trình điều tra Lê Đình T khai nhận T được người phụ nữ tên H2 thuê vận chuyển về Hà Nội. Qua điều tra xác định H2 có tên thật là Vũ Thị Lệ Q, sinh năm 1970, trú tại: Số D N, T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Lê Đình T nhận dạng, kết quả bị cáo nhận dạng xác định Q là người đã trao đổi, rủ T vận chuyển 643,43 gam Heroine. Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Thị Lệ Q, tuy nhiên Q đã bán nhà, chuyển đi nơi khác. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm người đối với Vũ Thị Lệ Q. Khi nào có căn cứ sẽ điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

[8.2] Đối với người đàn ông tên H3, Lê Đình T khai là chồng của Q, đi cùng bị cáo và Q lên Điện Biên mua ma tuý. Quá trình điều tra xác định H3 tên thật là Nguyễn Văn T2, sinh năm 1970, trú tại số C Chợ H, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Lê Đình T nhận dạng, kết quả bị cáo nhận dạng xác định Nguyễn Văn T2 chính là người đàn ông tên H3 đi cùng T và Q lên Điện Biên ngày 07/5/2023. Cơ quan điều tra đã ra lệnh đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T2. Quá trình lấy lời khai, T2 khai nhận ngày 07/5/2023 có được đi cùng Vũ Thị Lệ Q và Lê Đình T lên Điện Biên chơi, T2 không biết, không liên quan đến việc mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý của T và Q. Ngoài lời khai của T, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh Nguyễn Văn T2 có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã ra Quyết định trả tự do cho Nguyễn Văn T2 theo quy định của pháp luật.

[8.3] Đối với Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991, trú tại khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ là người lái xe taxi chở Lê Đình T từ Điện Biên về Hà Nội. Qua điều tra xác định H1 không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

[8.4] Đối với người đàn ông đi xe máy mang ma tuý đến cho Q, bị cáo T khai không biết họ tên, địa chỉ, không rõ biển số xe. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

[9] Về án phí: Bị cáo Lê Đình T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:

+ Tuyên bố bị cáo Lê Đình T phạm tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Lê Đình T tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/5/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2.1. Tịch thu tiêu hủy:

  • - 641,44 gam Heroine, vỏ gói ban đầu, phong bì niêm phong ban đầu được niêm phong trong 01 chiếc phong bì do Công an huyện V, tỉnh Sơn la phát hành, còn nguyên niêm phong. Mặt sau tại mép dán giáp lai của phong bì được dán giấy niêm phong số 069047 do Công an tỉnh S phát hành, trên giấy niêm phong có ghi: “CƠ QUAN CSĐT CÔNG AN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA, Hồi 06 giờ 00 phút, ngày 08/5/2023” và có đầy đủ chữ ký, họ tên các thành phần tham gia, chữ ký, họ tên của Nguyễn Văn H1 và điểm chỉ ngón trỏ phải của Lê Đình T cùng một hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Sơn La.
  • - 01 Test thử ma tuý của Lê Đình T được niêm phong trong 01 chiếc phong bì do Bưu điện V2 phát hành, còn nguyên niêm phong. Mặt sau tại mép dán giáp lai của phong bì thư được dán giấy niêm phong số 069046 do Công an tỉnh S phát hành, trên giấy niêm phong có ghi: “CƠ QUAN CSĐT CÔNG AN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA, Hồi 04 giờ 35 phút, ngày 08 tháng 5 năm 2023” và có đầy đủ chữ ký, họ tên các thành phần tham gia, chữ ký và điểm chỉ ngón trỏ phải của Lê Đình T cùng một hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Sơn La.
  • - 01 Test thử ma tuý của Nguyễn Văn H1 được niêm phong trong 01 chiếc phong bì do Bưu điện V2 phát hành, còn nguyên niêm phong. Mặt sau tại mép dán giáp lai của phong bì thư được dán giấy niêm phong số 069045 do Công an tỉnh S phát hành, trên giấy niêm phong có ghi: “CƠ QUAN CSĐT CÔNG AN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA, Hồi 04 giờ 30 phút, ngày 08 tháng 5 năm 2023” và có đầy đủ chữ ký, họ tên các thành phần tham gia, chữ ký và chữ ký, họ và tên của Nguyễn Văn H1 cùng một hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Sơn La.
  • - 01 (một) chiếc túi (dạng ví cầm tay) màu nâu, trên túi có dòng chữ VL, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở (đựng trong chiếc phong bì có 30.000.000 đồng).

2.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

  • - 01 (một) Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 11 Promax, vỏ màu xám, trong máy kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng. Tại thời điểm giao, nhận không kiểm tra được thông tin, Imei seri và tình trạng hoạt động của điện thoại do đã hết pin, không bật được nguồn; Hai bên giao, nhận đã niêm phong chiếc điện thoại kèm sim vào một phong bì để bảo quản theo quy định.

2.3. Trả lại cho bị cáo Lê Đình T:

  • - 01 (một) Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 11 Promax, vỏ màu xanh rêu, trong máy kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng. Tại thời điểm giao, nhận không kiểm tra được thông tin, Imei seri và tình trạng hoạt động của điện thoại do đã hết pin, không bật được nguồn (đã niêm phong theo đúng quy định).
  • - 01 (một) giấy phép lái xe số AS925072 do Sở giao thông vận tải Thành phố H cấp cho Lê Đình T ngày 31/8/2011 (bản gốc).
  • - 01 (một) căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp cho Lê Đình T ngày 25/02/2022 (bản gốc).
  • - Số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) trong 01 (một) chiếc phong bì đã bóc mở.
  • - 01 (một) chiếc phong bì thư do Công an huyện V, tỉnh Sơn La phát hành nguyên niêm phong. Mặt trước phong bì ghi: “Thẻ ngân hàng thu giữ của Lê Đình T, SN 1974, trú tại ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai”. Mặt sau phong bì tại mép dán giáp lai dán giấy niêm phong có số 069072 do Công an tỉnh S phát hành, trên giấy niêm phong có ghi: “CƠ QUAN CSĐT CÔNG AN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA, Hồi 01 giờ 00 phút, ngày 08 tháng 5 năm 2023” và có đầy đủ chữ ký, họ tên các thành phần tham gia, chữ ký, họ tên của Nguyễn Văn H1 và điểm chỉ ngón trỏ phải của Lê Đình T cùng một hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Sơn La.
  • (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La ngày 14/5/2024)
  • - Huỷ bỏ lệnh phong tỏa tài khoản số 123/LPT-ĐTTH của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, đối với tài khoản ngân hàng TMCP V1 số 0768282839 mang tên Lê Đình T.

Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H1 số tiền 7.900.000đ (Bảy triệu chín trăm nghìn đồng), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy Note 10 Lite, 01 giấy phép lái xe hạng C số [...].

Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen; 04 thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Văn T2, 02 Căn cước Công dân mang tên Nguyễn Văn T2, 01 sim điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn T2.

Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Trọng Đ1 01 chiếc xe ô tô con, nhãn hiệu HUYNDAI, loại Accent 14MT, BKS 19A-326.72; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe oto, 01 giấy biên nhận thế chấp.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Đình T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Đình T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/8/2024); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Phòng PC04-Công an tỉnh Sơn La;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Cục THADS tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Phòng KTNV- THA;
  • - Lưu HS-AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lại Thị Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 166/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đình T phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 4 Điều 250 BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger