|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 166/2023/HS-ST Ngày 26 - 10- 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Hữu Thỏa và bà Hồ Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kiều – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 153/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Công T
(tên gọi khác: Không); sinh năm 1982, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Công T1, sinh năm 1955; con bà Lê Thị M, sinh năm 1960; có vợ Trần Thị H, sinh năm 1983; con có 04 người, lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 15/12/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 17 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 234 ngày 15/12/2021; chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/8/2023 cho đến nay - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 24/8/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Công T đi đến xã D, huyện D với mục đích tìm người nghiện ma túy để xin ma túy sử dụng thì gặp một người đàn ông tên “Anh” (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) (T và người này là người nghiện ma túy nên có quen biết với nhau từ trước). Tại đây, T đứng nói chuyện với A và hỏi người này “Anh có đồ không cho em xin một chén” (ý của T hỏi để xin ma túy sử dụng) thì A nói “Đợi tý rồi kiếm cho” rồi Anh bỏ đi đâu không rõ. Khoảng 30 phút sau, Anh quay lại nói với T là “Đồ tau để ở trong gói thuốc lá gần đường sát chân đồi đó, đi lại đó mà lấy”, nói xong thì Anh bỏ đi. Sau đó, T đi lại khu vực đường sát chân đồi để tìm thì thấy có một bao thuốc lá “Cò” nên mở ra kiểm tra thì thấy bên trong bao thuốc lá có 01 (Một) gói giấy màu trắng bên trong có chứa các chất bột màu trắng là ma túy Hêrôin. T cầm lấy gói giấy màu trắng chứa ma túy cất giấu vào trong người và vứt vỏ bao thuốc xuống đất rồi đi ra đường Q xin đi nhờ xe của người đi đường để về nhà. Đến khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, khi về đến xã T, T đi vào khu vực đập 32 (thuộc thôn F, xã T, huyện Q) rồi lấy gói ma túy mà A đã cho trước đó ra sử dụng một phần, số còn lại T cất trong gói giấy màu trắng để ở túi áo ngực bên trái rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, khi Nguyễn Công T đang đi trên đường liên thôn (thuộc thôn F, xã T, huyện Q) thì bị tổ công tác Công an huyện Q và công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại túi áo ngực bên trái của T 01 (Một) gói giấy màu trắng bên trong chứa các chất bột màu trắng (nghi là ma túy Hêrôine) và 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao “0344053570”.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, xác định: 01 (Một) gói giấy màu trắng bên trong chứa các chất bột màu trắng (Nghi là ma túy) thu giữ của Nguyễn Công T có tổng khối lượng 0,1g (Không phẩy một gam).
Tại bản kết luận giám định số 866/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 29/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Công T gửi tới giám định là ma túy (Hêrôin), có tổng khối lượng là 0,1g.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 166/CT-VKS-QL ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Công T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định tuy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS. Xử phạt Nguyễn Công T từ 18 đến 24 tháng tù; không phạt tiền bổ sung.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy vỏ gói niêm phong ban đầu.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nokia 105 bên trong gắn số thuê bao 0344053570.
Về án phí: Áp dụng Điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Vụ án có tính chất nghiêm trọng, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với sức khoẻ con người, là nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh các loại tệ nạn xã hội nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng.
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang lập ngày 24/8/2023. Có cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/8/2023, tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn F, xã T, huyện Q khi Nguyễn Công T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1g ma túy (Hêrôin) để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Q phối hợp với Công an xã T bắt quả tang. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS mà Viện kiểm sát đã quy kết là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có bố đẻ tham gia dân công hỏa tuyến trong kháng chiến là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng đã cố ý thực hiện. Ngày 15/12/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu xử phạt 17 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023 trở về địa phương nhưng không coi đó làm bài học để rèn luyện trở thành công dân tốt mà còn phạm tội mới chứng tỏ coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cảm hóa, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo là lao động tự do và bị áp dụng hình phạt tù nên không phạt tiền bổ sung. Việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Đối với người đàn ông tên “Anh” đã cho Nguyễn Công T ma túy. Tuy nhiên, qua xác minh tại công an xã D, huyện D không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này như khai báo của Nguyễn Công T nên không đủ căn cứ xử lý trong vụ án này.
[4] Về vật chứng:
Đối với 0,1 gam ma tuý thu giữ của bị cáo đã lấy mẫu giám định hết và võ gói niêm phong ban đầu không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
[5] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo là đối tượng được miễn án phí hình sự và có đơn xin miễn giảm án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Xử phạt Nguyễn Công T 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 24/8/2023.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy võ gói niêm phong ban đầu; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nokia 105 bên trong gắn số thuê bao 0344053570 (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận lập ngày 03/10/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Q với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An).
- Về án phí: Căn cứ Điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự cho bị cáo Nguyễn Công T.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Sỹ Mạnh |
Bản án số 166/2023/HS-ST ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 166/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Công T
