|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 166/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25/12/2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Minh
- Ông Nguyễn Thanh Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 376/2023/TLST – HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 127/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị H, sinh năm 2000
Địa chỉ: Tổ 5, thôn D, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Anh T, sinh năm 1996
Địa chỉ: Tổ 5, thôn D, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận
Tại phiên tòa vắng mặt các đương sự.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị H trình bày.
Chị và anh T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 24/4/2019 tại Ủy ban nhân dân xã H. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu mâu thuẫn do anh T lo ăn nhậu, không quan tâm gia đình, vợ con. Từ tháng 5/2023, anh chị đã không còn chung sống với nhau nữa, không còn liên lạc để hàn gắn tình cảm nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu L, sinh ngày 07/10/2017 và L2, sinh ngày 27/5/2019. Hiện nay con đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con.
Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh T: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh T đều vắng mặt không có lý do. Không có văn bản thể hiện ý kiến của anh T về yêu cầu khởi kiện của chị H. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, chị H vắng mặt do có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh T vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện hàm Thuận Bắc phát biểu ý kiến:
Về tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng, bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận T bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về con chung với bị đơn anh T. Bị đơn có địa chỉ và sinh sống ở Tổ 5, thôn D, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Nguyên đơn chị H vắng mặt do có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật tại Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn ngày 24/4/2019 Ủy ban nhân dân xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của hai đương sự là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Theo chị H, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu mâu thuẫn do anh T lo ăn nhậu, không quan tâm gia đình, vợ con. Từ tháng 5/2023, anh chị đã không còn chung sống với nhau nữa, không còn liên lạc với nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hiện nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau nhưng anh T vắng mặt chứng tỏ anh T không có thiện chí muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với chị H.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, chăm sóc nhau. Nhưng giữa chị H và anh T không thực hiện được nghĩa vụ vợ chồng với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị H ly hôn với anh T là phù hợp với thực tế và đúng qui định của pháp luật.
Về con chung: Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là cháu L, sinh ngày 07/10/2017 và L2, sinh ngày 27/5/2019. Xét thấy, hiện nay các con chung đang được chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống hiện tại của mẹ con chị H đang ổn định, được học hành và chăm sóc đầy đủ nên việc để chị H được tiếp tục nuôi dưỡng hai con là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Anh T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đối với việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- – Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- – Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- – Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H:
Về hôn nhân: Chị H được ly hôn anh T.
Về con chung: Giao 02 con chung tên L, sinh ngày 07/10/2017 và L2, sinh ngày 27/5/2019 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0019733 ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị H và anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thu Thúy |
Bản án số 166/2023/HNGĐ-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 166/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
