|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 166/2024/HS-ST Ngày: 23-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Quản
- Bà Lâm Thị Nga
- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 248/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 956/2024/QĐXXST ngày 11/7/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1993; Nơi sinh: Tại tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi thường trú và cư trú: 02/93, Khu phố A, phường H, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1967, con bà Nguyễn Thị H (đã chết); Anh chị em 02 người lớn nhất là bị cáo; Tiền sự: Không.
Tiền án: Tại Bản án số 338/2023/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tuyên phạt Nguyễn Ngọc T 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Nguyễn Ngọc T bị tạm giữ tạm giam từ ngày 02/7/2023 đến ngày 15/12/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Quyết định bão L. Nguyễn Ngọc T chưa chấp hành án.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/02/2024 (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 2004; Địa chỉ: 1 đường T, Tổ B, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/Bà Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh năm 1979; Địa chỉ: 1 đường T, Tổ B, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).
2/ Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1967; Địa chỉ: 0, Khu phố A, phường H, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Hòa H1; địa chỉ: C đường T, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 25/02/2024, Nguyễn Ngọc T thuê xe GrabBike từ đường L, phường T, Quận A đến tiệm nét “Hà Anh” tại địa chỉ 310 đường T, Tổ B, Khu phố C, phường T, Quận A để chơi điện tử. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, T nghỉ chơi và tính tiền đi về. Khi ra đến chỗ để xe mô tô của tiệm, T nảy sinh ý định trộm cắp xe đem bán lấy tiền tiêu xài. T quan sát thấy anh Nguyễn Văn Hòa H1 (là chủ tiệm) không để ý nên T lấy chìa khóa xe mô tô của T mang theo cắm vào ổ khóa xe mô tô biển số 59G2 - 402.33 của anh Nguyễn Hoàng Q rồi đẩy xe ra khỏi tiệm nét “Hà A”. Sau đó, T đẩy bộ xe tẩu thoát về hướng đường N tìm nơi làm chìa khóa xe mô tô để mở khóa xe rồi nổ máy điều khiển đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đến trước địa chỉ số I đường N, tổ A, khu phố C, phường T, Quận A thì T bị anh H1 đuổi theo bắt quả tang giao T cùng với xe môtô biển số 59G2 - 402.33 cho Công an phường T xử lý (bút lục 03-04).
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc T đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên (bút lục 17-19; 124-126; 140-143).
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS ngày 01/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự: Chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 59G2-402.33 trị giá 18.500.000 đồng (bút lục 85).
Vật chứng thu giữ (bút lục 03-04; 15, 22, 63, 67):
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số: 59G2- 402.33; số khung: RLHJF5812GY552785; số máy: JF66E0480170. Qua xác minh xe do bà Nguyễn Hoàng Bảo N (mẹ của Nguyễn Hoàng Q) đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà N.
- 01 chìa khóa xe mô tô có ký hiệu và chữ HONDA. Qua xác minh, chiếc chìa khóa trên là chìa khóa xe mô tô hiệu Honda Airblade của ông Nguyễn Thanh B (cha ruột của Nguyễn Ngọc T). Vào ngày 25/02/2024, T mượn xe của ông B đi chơi, sau đó đem xe về nhà cất và giữ luôn chìa khóa.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11 màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số 0908433857 và số tiền 290.000 đồng, đây là tài sản cá nhân của Nguyễn Ngọc T nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho người được Thành ủy quyền là ông Nguyễn Thanh B.
- 01 áo khoác màu đen trắng, có dòng chữ New Balance; 01 áo thun màu đen hiệu Burberry ngắn tay; 01 quần dài màu xám; hiệu RENTO KIL (là trang phục Nguyễn Ngọc T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội).
- 01 USB hiệu SanDisk bên trong có chứa 04 đoạn video clip ghi nhận sự việc trộm cắp tài sản tại tiệm N1.
- 01 USB hiệu: Kingston bên trong có chứa 01 đoạn video clip ghi nhận sự việc Nguyễn Ngọc T bị Nguyễn Văn Hòa H1 khống chế bắt quả tang.
Dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/QĐ-VKS ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngày 18/6/2024 Chánh án Tòa án nhân dân Quận 12 ban hành Quyết định số 01/2024/QĐ-TA Hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 56 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo T từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 338/2023/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt Nguyễn Ngọc T 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định
Bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Quyết định đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Ngọc T khai nhận về hành vi phạm tội do bị cáo gây ra đúng như nội dung Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, vật chứng thu giữ và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 25/02/2024 tại tiệm nét “H” địa chỉ 310 đường TTH21, Tổ B, Khu phố C, phường T, Quận A. T nảy sinh ý định trộm cắp xe đem bán lấy tiền tiêu xài. T quan sát thấy anh Nguyễn Văn Hòa H1 (là chủ tiệm) không để ý nên T lấy chìa khóa xe mô tô của T mang theo cắm vào ổ khóa xe mô tô biển số 59G2 - 402.33 của anh Nguyễn Hoàng Q rồi đẩy xe ra khỏi tiệm nét “Hà A”. Sau đó, T đẩy bộ xe tẩu thoát về hướng đường N tìm nơi làm chìa khóa xe mô tô để mở khóa xe rồi nổ máy điều khiển đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đến trước địa chỉ số I đường N, tổ A, khu phố C, phường T, Quận A thì T bị anh H1 đuổi theo bắt quả tang giao T cùng với xe môtô biển số 59G2 - 402.33 cho Công an phường T xử lý.
Hành vi của Nguyễn Ngọc T cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:
Bị cáo T phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 338/2023/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2023 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội khi chưa chấp hành bản án của Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Vì vậy bị cáo phạm tội lần này với tình tiết tăng nặng tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên cần thiết phải xét xử bị cáo nghiêm khắc trước pháp luật. Cách ly bị cáo khỏi xã hội để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nên cần áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[4] Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự:
- Về xử lý vật chứng:
- Ghi nhận cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu bà Nguyễn Hoàng Bảo N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số: 59G2- 402.33; số khung: RLHJF5812GY552785; số máy: JF66E0480170 nên hội đồng xét xử không xem xét.
- Ghi nhận cơ quan điều tra trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11 màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số 0908433857 và số tiền 290.000 đồng, đây là tài sản cá nhân của Nguyễn Ngọc T, Thành ủy q là ông Nguyễn Thanh B nhận lại nên hội đồng xét xử không xem xét.
- Trả lại: 01 chìa khóa xe mô tô có ký hiệu và chữ HONDA cho ông Nguyễn Thanh B.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác màu đen trắng, có dòng chữ New Balance; 01 áo thun màu đen hiệu Burberry ngắn tay; 01 quần dài màu xám; hiệu RENTO KIL (là trang phục Nguyễn Ngọc T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội).
- Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB hiệu SanDisk bên trong có chứa 04 đoạn video clip ghi nhận sự việc trộm cắp tài sản tại tiệm N1 và 01 USB hiệu: Kingston bên trong có chứa 01 đoạn video clip ghi nhận sự việc Nguyễn Ngọc T bị Nguyễn Văn Hòa H1 khống chế bắt quả tang.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên không áp dụng.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo T phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 56 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 338/2023/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt Nguyễn Ngọc T 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02(hai) năm 09(chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2024 nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2023 đến ngày 15/12/2023.
[2] Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Trả lại: 01 chìa khóa xe mô tô có ký hiệu và chữ HONDA cho ông Nguyễn Thanh B.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác màu đen trắng, có dòng chữ New Balance; 01 áo thun màu đen hiệu Burberry ngắn tay; 01 quần dài màu xám; hiệu RENTO KIL (là trang phục Nguyễn Ngọc T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội).
- - Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB hiệu SanDisk bên trong có chứa 04 đoạn video clip ghi nhận sự việc trộm cắp tài sản tại tiệm N1 và 01 USB hiệu: Kingston bên trong có chứa 01 đoạn video clip ghi nhận sự việc Nguyễn Ngọc T bị Nguyễn Văn Hòa H1 khống chế bắt quả tang.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 143/QĐ-VKS, ngày 24/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Triệu Thị Thùy Trang |
Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 166/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội trộm cắp tài sản
