TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 166/2023/HS-ST Ngày 22/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hùng Bích;
Ông Đặng Hữu Tấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Toản, ông Lê Tùng D - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 158/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Trần Thiện T (Thuận Ba D1), sinh năm 1973, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số H, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Lê Thị B1 (đã chết); có vợ là Trần Hồng L (Nguyễn Thị L1), có 01 người con, sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 04/02/1998 bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong bản án ngày 20/4/1998; ngày 18/9/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam trong vụ án khác từ ngày 05/7/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L; có mặt.
2. Mai Hoàng E, sinh năm 1992, tại huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Tuấn K và bà Nguyễn Thị Út T1; có vợ là Lê Thị Kim A, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 05/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong quyết định ngày 19/10/2021; ngày 02/8/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 14 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đến ngày 25/8/2023, bị tạm đình chỉ thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, do bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L khởi tố đối với Mai Hoàng E.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L; có mặt.
Bị hại: Ông Thái Công T2, sinh năm 1965; nơi cư trú: số H, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Phạm Thành T3, sinh năm 1991; nơi cư trú: số C, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Bà Trương Nhựt L2, sinh năm 1995; nơi cư trú: số B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 03/7/2023, Trần Thiện T rũ Mai Hoàng E đi tìm tài sản để lấy trộm thi Hoàng E đồng ý. Hoàng E điều khiển xe mô tô biển số 67N4-8675 chở T để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực khóm Đ, phường M, thành phố L thì thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future màu xanh bạc biển số 67B2-266.22 của ông Thái Công T2 dừng cặp lề đường nhưng không tắt máy. T liền kêu Hoàng E dừng lại để T đến lấy trộm xe mô tô và điều khiển đi khoảng 50m thì bị ông T2 phát hiện truy hô đuổi theo nhưng không kịp, T điều khiển xe mô tô biển số 67B2-266.22 đến khu vực cầu C thuộc phường M, thành phố L thì dừng lại mở cốp dưới yên xe thì phát hiện trong cốp xe có 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy nên lấy máy tính bảng cầm trên tay. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe mô tô đi thì gặp Lê Văn H. T nhờ H bán chiếc xe mô tô này nhưng không nói cho H biết xe mô tô do phạm tội mà có. H dẫn T đến bán xe mô tô 67B2-266.22 cho Phạm Thành T3 với giá 5.000.000 đồng. Sau khi bán được xe, T gọi điện thoại cho Hoàng E đến khu vực cầu C thuộc phường M đưa cho Hoàng E 1.000.000 đồng. Đến ngày 04/7/2023, T bán máy tính bảng cho Trương Nhựt L2 với giá 150.000 đồng nhưng không cho L2 biết máy tính bảng do phạm tội mà có.
- Về vật chứng và tài sản thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMOTOR, màu xanh, biển số 67N4-8675, số máy: 002518, số khung: 002518; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future màu xanh bạc, biển số 67B2-266.22, số máy: JC76E0359345, số khung: 7634JZ039967; 01 (một) máy tính bảng S A T595, số Seri R52M300LECR.
- Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 229/KL.HĐ ngày 06/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, ghi nhận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future màu xanh bạc, biển số 67B2-266.22, trị giá 18.238.000 đồng; 01 (một) máy tính bảng Samsung G, đã qua sử dụng, trị giá 700.000 đồng.
Ngày 21/8/2023, Trần Thiện T, Mai Hoàng E bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L khởi tố để điều tra, xử lý.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSLX ngày 21 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố các bị cáo Trần Thiện T, Mai Hoàng E về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
- Các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thiện T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt với Bản án số 117/2023/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hình phạt chung phải chấp hành là từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Hoàng E từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMOTOR, màu xanh, biển số 67N4-8675, số máy: 002518, số khung: 002518; 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy, biển số 67N4-8675 mang tên Huỳnh Phú T4.
Buộc bị cáo T nộp lại 4.150.000 đồng, bị cáo Hoàng E nộp lại 1.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước do đây là tiền các bị cáo thu lợi bất chính.
* Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại và người liên quan không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không áp dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo T, bị cáo Hoàng E đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 09 ngày 03/7/2023, trên đoạn đường R thuộc khóm Đ, phường M, thành phố L, các bị cáo T, Hoàng E lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác trông việc quản lý tài sản của bị hại ông T2 nên đã lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 67B2-266.22 và 01 máy tính bảng Samsung Galaxy Tab A1 thuộc quyền sở hữu của ông T2 rồi nhanh chóng tẩu thoát nhằm tránh sự phát hiện của bị hại và cơ quan chức năng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 18.938.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo T, Hoàng E đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt là cải tạo không giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo T, bị cáo Hoàng E là người có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật, trước khi phạm tội các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo T đã từng kết án; đã bị khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Hoàng E từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng các bị cáo T, Hoàng E không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến vi phạm pháp luật. Trong vụ án này, hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác để bán tiêu xài cá nhân.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo T, Hoàng E đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra, bị cáo Hoàng E phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Cho nên, bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; bị cáo Hoàng E được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về đồng phạm: Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có sự bàn bạc nhưng không câu kết chặt chẽ mà chỉ thể hiện sự thống nhất ý chí thông qua việc cùng nhau thực hiện, các bị cáo tham gia với vai trò là người thực hành nên được xem là đồng phạm giản đơn.
Về vai trò của từng bị cáo: Bị cáo T là người chủ động rủ rê, là người phát hiện tài sản và trực tiếp chiếm đoạt rồi đem đi tiêu thụ tài sản, là người hưởng lợi bất chính nhiều hơn; bị cáo Hoàng E là người chuẩn bị phương tiện phạm tội và thực hành theo sự chỉ dẫn của bị cáo T. Cho nên, bị cáo T là người giữ vai trò chính là người thực hành, bị cáo Hoàng E là người giữ vai trò thứ yếu. Vì vậy, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của bị cáo T gây ra cao hơn so với bị cáo Hoàng E.
Xét thấy: Bị cáo T được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng E được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi. Tuy nhiên, trước khi phạm tội bị cáo T đã từng bị kết án; bị khởi tố điều tra, xử lý; bị cáo Hoàng E đã từng bị đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng các bị cáo không biết ăn năn hối cải, khắc phục bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện các bị cáo có ý thức xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo T bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 18/9/2023, theo bản án hình sự sơ thẩm số 117/2023/HS-ST. Hiện nay, bản án này đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với tội đang xét xử và quyết định hình phạt chung của bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không nghề nghiệp, thuộc thành phần lao động nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về trách nhiệm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Lê Văn H là người giới thiệu cho bị cáo T bán xe mô tô; Phạm Thành T3, Trương Nhựt L2 có hành vi mua bán xe mô tô và máy tính bảng với bị cáo là có dấu hiệu phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng H, T3, L2 không biết đây là tài sản do phạm tội mà có. Cho nên, trách nhiệm hình sự không đặt ra đối với những người này là phù hợp quy định pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã giao trả cho bị hại ông T2 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future màu xanh bạc, biển số 67B2-266.22; 01 (một) máy tính bảng Samsung G, đã qua sử dụng là phù hợp với quy định pháp luật nên không đề cập xử lý lại.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMOTOR, màu xanh, biển số 67N4-8675, số máy: 002518, số khung: 002518 cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy, biển số 67N4-8675 mang tên Huỳnh Phú T4 là tài sản của bị cáo Hoàng E, được bị cáo Hoàng E dùng làm phương tiện phạm tội. Xét, tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước.
Sau khi chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo T đã bán các tài sản trên với tổng số tiền 5.150.000 đồng. Trong đó, bị cáo T hưởng lợi 4.150.000 đồng, bị cáo Hoàng E hưởng lợi 1.000.000 đồng. Đây là khoản tiền các bị cáo hưởng lợi từ việc do phạm tội mà có và các bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết nên buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính này để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, ông T2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết.
Ông Phạm Thành T3 đã bỏ ra 5.000.000 đồng, bà Trương Nhựt L2 đã bỏ ra 150.000 đồng để cùng mua các tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt nhưng ông T3, bà L2 không có yêu cầu hoàn lại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo T, bị cáo Hoàng E mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Thiện T, Mai Hoàng E phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 56, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Trần Thiện T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù;
Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù của bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2023/HS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Hình phạt chung bị cáo Trần Thiện T phải chấp hành là 02 (hai) năm 06 tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ bắt bị cáo chấp hành án.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Mai Hoàng E 01 (một) năm tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/8/2023).
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMOTOR, màu xanh, biển số 67N4-8675, số máy: 002518, số khung: 002518 cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy, biển số 67N4-8675 mang tên Huỳnh Phú T4.
Buộc bị cáo Trần Thiện T nộp lại số tiền thu lợi bất chính 4.150.000 đồng, bị cáo Mai Hoàng E nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
(Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2023).
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Trần Thiện T, Mai Hoàng E mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Hiệp Phong |
Bản án số 166/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 166/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 03/7/2023, Trần Thiện Thanh rũ Mai Hoàng Em đi tìm tài sản để lấy trộm thi Hoàng Em đồng ý. Hoàng Em điều khiển xe mô tô biển số 67N4-8675 chở Thanh để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực khóm Đông Thịnh 9, phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên thì thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future màu xanh bạc biển số 67B2-266.22 của ông Thái Công Tuấn dừng cặp lề đường nhưng không tắt máy. Thanh liền kêu Hoàng Em dừng lại để Thanh đến lấy trộm xe mô tô và điều khiển đi khoảng 50m thì bị ông Tuấn phát hiện truy hô đuổi theo nhưng không kịp, Thanh điều khiển xe mô tô biển số 67B2-266.22 đến khu vực cầu Cái Sắn thuộc phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên thì dừng lại mở cốp dưới yên xe thì phát hiện trong cốp xe có 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy nên lấy máy tính bảng cầm trên tay. Sau đó, Thanh tiếp tục điều khiển xe mô tô đi thì gặp Lê Văn Hiếu. Thanh nhờ Hiếu bán chiếc xe mô tô này nhưng không nói cho Hiếu biết xe mô tô do phạm tội mà có. Hiếu dẫn Thanh đến bán xe mô tô 67B2-266.22 cho Phạm Thành Tài với giá 5.000.000 đồng. Sau khi bán được xe, Thanh gọi điện thoại cho Hoàng Em đến khu vực cầu Cái Sao thuộc phường Mỹ Thạnh đưa cho Hoàng Em 1.000.000 đồng. Đến ngày 04/7/2023, Thanh bán máy tính bảng cho Trương Nhựt Lan với giá 150.000 đồng nhưng không cho Lan biết máy tính bảng do phạm tội mà có
